Trang chủ » Tham Luận - Chính Trị » THẾ CỜ CHIẾN LƯỢC CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

THẾ CỜ CHIẾN LƯỢC CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

vaolscience-and-politics

@ Phạm Thiên Thơ 

Suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, kể từ thời Pháp thuộc cho đến giờ Việt Nam vẫn còn là nước tuột hậu mọi mặt so với đà tiến hóa chung của thế giới gồm những nước phát triển về mặt khoa học kỹ thuật, chính trị, văn hóa xã hội theo đà văn minh tiên tiến như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ý, Hòa Lan, Nhật Bản… Những nước này trước đây đã từng là thực dân, mặc dù một vài nước đã từng bị bại trận sau thế chiến như Đức, Ý, Nhật, nhưng tất cả đều đã đặt nền móng cho đất nước họ, đi bước đầu thế giới trong việc công nghệ hóa quốc gia và nhất là khoa học chính trị ngày nay thật đã giải phóng cho nhân loại có đuợc nhiều tự do nhân phẩm và quyền làm người thật sự được bảo đảm tôn trọng.

Khác với các quốc gia chậm tiến khác, ngày hôm nay Việt Nam còn thua cả Philippines, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Nam Hàn, những quốc gia này cũng đã từng là thuộc địa bị đô hộ, nhưng họ có được may mắn là sau thế chiến, nước họ đã không có xảy ra chiến tranh dai dẳng như Việt Nam, nên họ đã có thời gian yên ổn để xây dựng phát triển. Ngược lại Việt Nam lại rơi vào cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc, để rồi bị tàn phá, tuột hậu hơn nữa so với các quốc gia cũng từng là thuộc địa hay bán thuộc địa như Trung Hoa hay Thái Lan nói trên.

Sự tuột hậu của Việt Nam có những nguyên nhân sâu xa còn kéo dài đến ngày nay. Khi so sánh về sự tiến bộ phát triển với các nước quanh khu vực, Việt Nam thường hay đem Nhật hay gần nhất là Nam Hàn cũng đã từng có chung những trường hợp tương tự như đất nước bị chia đôi để lượng định hướng đi và những bài học của lịch sử.

Nước Nhật và Việt Nam đã có những giai đoạn lịch sử khá giống nhau vào giữa thế kỷ thứ 19 với triều đại Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật và nhà Nguyễn ở Việt Nam. Lúc chế độ Mạc Phủ (Tokugawa) ở Nhật bế quan toả cảng thì Việt Nam đang trong thời kỳ cai trị của vua Gia Long, có thể nói còn cởi mở hơn chế độ Mạc Phủ bởi vua Gia Long đã từng giao tiếp với Pháp cũng như nhiều giáo sĩ Thiên Chúa giáo đến truyền giáo ở Việt Nam. Vua Gia Long cũng đã thấy rõ  phần nào tình hình và những thế lực thực dân bành trướng theo đường biển đến vùng Đông Nam Á như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan có mặt trên các thuộc địa như Philippines, Nam Dương, Mã Lai Á… nhưng tiếc thay vua Gia Long cũng như những vị vua khác sau này không thức thời thấy được sức mạnh hàng hải và những kỹ thuật khoa học lẫn quân sự cũng như xu thế chính trị của thời đại nên đã bỏ mất cơ hội canh tân hóa đất nước theo khoa học Tây phương để có đủ sức mạnh bảo vệ chủ quyền quốc gia trước sự xâm chiếm của thực dân Châu Âu. Những năm như 1842 Anh gây cuộc chiến tranh Nha Phiến ở Trung Hoa để mở đầu việc thiết lập các Tô giới giao thương dưới quyền cai trị của các cường quốc Tây phương. Năm 1853 Đô đốc Perry của Mỹ  kéo chiến hạm tới Nhật buộc chề độ Mạc Phủ phải dỡ bỏ chính sách bế quan tỏa cảng cũng nhằm thiết lập những hải cảng giao thương. Năm 1856 Pháp kéo chiến thuyền Catinat đến cửa biển Đà Nẵng bắn phá khắp nơi cũng nhằm buộc nhà Nguyễn phải gỡ bỏ chính sách bế quan tỏa cảng. Thấy thế để có dịp so sánh những quốc gia nào trong cùng một thời gian đã sớm biết thức tỉnh để canh tân hóa quốc gia theo kỹ thuật khoa học Tây phương ngõ hầu đủ mạnh để không bị thực dân Tây phương xâm chiếm. Trường hợp nước Nhật, chế độ Mạc Phủ dần suy yếu, cuối cùng phải trao trả mọi quyền hành cai trị lại cho Minh Trị Thiên Hoàng để mở ra thời kỳ canh tân đất nước với những người lãnh đạo dưới trướng của Minh Trị đầy hùng tâm, trong sạch cùng chủ động triệt để theo đuổi sách lược canh tân đất nước theo hướng khoa học kỹ thuật của Tây phương.

Phần Việt Nam, các vua nhà Nguyễn luôn thủ cựu, ôm lấy cái học của Trung Hoa không muốn bứt rời, vẫn bế quan tỏa cảng mặc dù tiếng súng của Pháp đã cảnh báo, nếu không thức tỉnh canh tân đất nước theo khoa học Tây phương thì tai họa vì yếu thế, bại trận, bị đô hộ sẽ xảy ra sau này. Nhưng các vua nhà Nguyễn vẫn cứ mê ngủ trong cái học cổ thời của Trung Hoa, vẫn cứ cấm đạo, giết hại các giáo sĩ lẫn những người theo Thiên Chúa giáo, tuyệt giao chung với những đòi hỏi mở cửa thông thương của Tây phương. Cơ hội thứ nhất, khởi đầu công cuộc canh tân đất nước theo lối Tây phương như Nhật đã bỏ lỡ, hậu qủa Việt Nam đã bị bại trận trước sự xâm lăng của Pháp để bị đô hộ suốt gần 100 năm kéo dài trong tình trạng nhược tiểu lệ thuộc.

Tinh trạng Việt Nam bị lệ thuộc Pháp kéo dài gần một thế kỷ, cho đến thế chiến thứ 2 kết thúc, các cường quốc Châu Âu đã dần trao trả độc lập lại cho các quốc gia thuộc địa. Cơ hội mới đã đến cho Việt Nam để có thể chung sức bắt tay canh tân đất nước, nhưng tiếc thay cơ hội lần thứ 2 này cũng đã bỏ lỡ. Từ khi Việt Nam được trao trả độc lập 1954, đồng thời cung bị phân chia hai miền Nam Bắc thành hai chế độ qua sự chi phối trong một thế giới lưỡng cực giữa tư bản và cộng sản. Chiến tranh đã nổ ra giữa hai miền Nam Bắc thành một cuộc nội chiến tương tàn, hủy hoại toàn diện đến tận cùng mọi nền tảng xã hội. Trên 20 năm chiến tranh đã tàn phá mọi nguồn nhân lực, tàn phá mọi mặt đời sống nên không thể nào có được cơ hội để canh tân đất nưóc. Khi chế độ cộng sản miền Bắc đã khai tử chế độ tự do miền Nam để rồi có dịp nhìn lại, mặc dầu đã gần nửa thế kỷ chiến tranh đã đi qua, ngày nay ta thấy rõ chế độ cộng sản chỉ là sản phẩm giai đoạn của đế quốc Nga và Tàu. Chủ thuyết Mác-Lênin có thời hai nước Nga-Hoa đã xem nhau như thù địch, tố cáo nhau là “phản động”, là “chủ nghĩa xét lại”. Điều này chứng tỏ lý thuyết Mác-Lênin được áp dụng đầu tiên tại nước Nga để xây dựng nên nhà nước Sô-Viết chỉ nhằm chống lại Tây phương, phản ảnh rõ hoàn cảnh địa lý và chính trị với chiều dài lịch sữ nhiều thế kỷ từ thời các Sa Hoàng đến giờ nước Nga luôn trong tình thế tranh chấp với các nước phương Tây. Xét cho cùng lý thuyết Mác-Lênin cũng chỉ như phương tiện tiếp tục phản kháng lại phương Tây, nhưng đến khi không còn phù hợp cho quyền lợi nước Nga nửa thì giới lãnh đạo cũng biết vứt bỏ đi, bới nó không phải là cứu cánh tốt đẹp cần đeo đuổi. Có chăng chỉ còn giới lãnh đạo Hà Nội, lú mù như các tổng bí thư, ban tuyên giáo đảng cộng sản cứ nhại đi nhại lại mà chẳng biết chút gì về thực trạng thế giới ngày nay với những thể chế chính trị tự do dân chủ đang bước vào ngưỡng cửa toàn cầu hóa, có những trách nhiệm chung trong những tương quan đối nội và đối ngoại trên con đường xây dựng và phát triển giữa quốc gia và cộng đồng thế giới.

Trở lại việc canh tân đất nước như đã nói, sau hơn 40 năm kết thúc chiến tranh với sự cai trị của chế độ cộng sản, Việt Nam ngày nay thật sự cũng đã đánh mất đi cơ hội thứ 2  kể từ năm 1954 đến nay. Điều dễ thấy nhất như đã trình bày, thể chế chính trị cộng sản theo học thuyết Mác-Lênin chỉ là phương tiện giúp nước Nga lôi kéo những nước khác trên thế giới chống lại phương Tây, ngày nay nó không còn hiệu qủa nửa thì phương tiện lỗi thời này phải bị nước Nga khai tử để tìm những phương tiện khả thi khác. Việt Nam chỉ còn chờ một cơ hội thứ 3 sau thời kỳ hậu cộng sản, chờ cho đến khi nào chế độ công sản không còn tồn tại trên đất nước Việt Nam như trường hợp nước Nga đã hủy bỏ nó như một phương tiện chống Tây phương đã lỗi thời. Vấn đề canh tân của Việt Nam từng ấp ủ gần hai thế kỷ qua không phải để chống lại Tây phương như Nga, hay bế quan tỏa cảng, khư khư ôm lấy cái học cổ thời như nhà Nguyễn, mà vấn đề canh tân đất nước phải nhìn đến phương Tây như Nhật Bản đã thực hiện cách nay đã hai thế kỷ.

Canh tân đất nước theo khoa học kỹ thuật Tây phương cũng cần phải canh tân cả về mặt khoa học chính trị theo lối Tây phương mới tạo nên những điều kiện: Ắt có và  hội đủ cho công cuộc phát triển theo chiều hướng tốt.

Khi nhìn nhận chính trị là một khoa học tổng quan, thống lãnh mọi môn học khác trong việc điều hành và chi phối tất cả những hoạt động của toàn thể quốc gia và xã hội thì mặc nhiên chúng ta cũng phải thừa nhận những sự liên quan đến cả mọi lãnh vực khác như kinh tế, quân sự, văn hóa xã hội… đến bang giao quốc tế cũng đều có những định chế và công ước tuân thủ chung cho những quốc gia thật sự thấy mình có trách nhiệm muốn đưa đất nước tiến theo chiều hướng phát triển tốt đẹp chung.

Cuối cùng chính trị mới là cứu cánh luôn cần phải đeo đuổi, cần có một tầng lớp lãnh đạo thanh liêm và thông hiểu được hết đường hướng canh tân chung, giữ cho xã hội không tan rã vì lối học theo Tây của từng cá nhân người Việt trong hai thế kỷ qua chỉ thụ động vì thời thế bắt buộc, nước đến chân nên mới chịu nhảy nên đa số không có phương hướng và chủ đích nào ngoài vấn đề  mưu cầu sự sống vật chất, chưa nói khi những cá nhân ngồi lại như tình trạng người Việt ngày nay thì ôi thôi!… ấu đả nhau vô số chuyện ông nói gà, bà nói vịt… chẳng ai chịu nghe ai! Khác hẳn người Nhật khi ngồi chung lại với nhau là cả một sức mạnh đáng kính nể, cho thấy công cuộc canh tân khởi đầu từ hai thế kỷ qua, những nguời lãnh đạo nước Nhật luôn có chính sách và đường hướng giữ cho xã hội Nhật Bản luôn được đều hòa phát triển, nhất là công cuộc lãnh đạo từ thời Minh Trị Thiên Hoàng đến ngày nay luôn được kế tục qua mọi chính quyền nên những kinh nghiệm cùng những tinh hoa qúi báu đã trở thành di sản vô gía giúp nước Nhật luôn biết đoàn kết gắn bó, đến thế giới nhìn vào đều phải kiên nể, thán phục.

Nhìn lại Việt Nam ngày nay, chúng ta nhận thấy con đường tiến thủ đã rõ! Chế độ chính trị đường cùng của cộng sản đã mất phương hướng. Không có con đường nào bi đát hơn là ” Định hướng xã hội chủ nghĩa “. Chế độ cộng sản đã tự mâu thuẩn với mọi gía trị văn minh thời đại, còn tệ hại hơn thời kỳ bế quan tỏa cảng của nhà Nguyễn đã dẫn đến hậu qủa bại trận trước thực dân Pháp.

Ngày nay thể chế chính trị cộng sản Việt Nam luôn dựa dẫm theo Tàu, nên mọi chính sách chiến lược ít nhiều đều bị lệ thuộc theo Bắc Kinh, đặt Việt Nam vào trong quỹ đạo vận hành của Bắc Kinh. Mới nhất là giàn khoan Hải Dương (Haiyang Shiyou) 981 của Trung cộng đã khuấy động ngoài Biển Đông, cũng là lúc mọi người thấy rõ hơn những phản ứng luôn mang tính đỡ đòn, thụ động của Hà Nội, chẳng tạo được một chiến lược đối trọng trường kỳ nào trước sự xăm lăng trắng trợn của Bắc Kinh, bởi bản chất chế độ Hà Nội là đầu phục Bắc Kinh để còn ve vãn tưng hót và nương nhờ vai trò đồng chí truyền thống còn sót lại trong lịch sử đã cáo chung của các chế độ cộng sản trên khắp thế giới.

Bản đồ Đông Hải và Trò Chơi hơi Tối Xám của Bắc Kinh

Thể chế chính trị cộng sản Việt Nam đã nương bóng theo người thì làm gì có chiến lược sâu xa nào hơn là chấp nhận bị lệ thuộc vào những quyết định may rủi của nước lớn như Trung cộng. Khi nước lớn muốn tác oai tác quái, kéo giàn khoan đến cắm sâu vào vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam thì nội bộ đảng cộng sản Việt Nam không còn bưng bít được những chia rẽ xáo trộn. Mai đây nếu Bắc Kinh cho triệu tập một hội nghị theo ý tổng bí thư đảng CSVN từng sợ hãi quếnh quán muốn khẩn khoản liên lạc cầu hòa gấp qua đường dây nóng về vụ giàn khoan, nhưng đã bị Bắc Kinh cắt đứt theo lối giận dữ kiểu như cha muốn từ con, thôi còn gì tủi nhục hơn nữa hỡi ông tổng bí thư!… Mai này Bắc Kinh nguôi ngoai, Tập Cận Bình có chút bớt giận, sẽ triệu hồi cả hàng ngũ đảng CSVN qua răn đe trách móc thì phận yếu hèn như đảng CSVN biết sao hơn là phải lục đục, cố lôi kéo  nhau hết qua Tàu triều kiến là cái chắc.

Một hội nghị Thành Đô thứ 2 chăng? Cả đất nước Việt Nam lại thêm một lần tắt ngủm nữa vì thế cờ chả ra chiến lược chính trị gì của đảng cộng sản Việt Nam đành phải thất thủ, chịu khuất phục trước thế cờ chiến lược chính trị của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán.

@ Phạm Thiên Thơ 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

“Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu”

Tháng Năm 2014
H B T N S B C
« Th4   Th6 »
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
%d bloggers like this: