Trang chủ » Lịch Sử Việt Nam » VÕ CÔNG HÀO HÙNG OANH LIỆT NHẤT CỦA DÂN TỘC CUỐI THẾ KỶ XVIII

VÕ CÔNG HÀO HÙNG OANH LIỆT NHẤT CỦA DÂN TỘC CUỐI THẾ KỶ XVIII

 

DenThoNhaTaySon

Đền thờ Quang Trung Hoàng Đế tại Kiên Mỹ, Bình Khê, Tỉnh Bình Định


Nhà Tây Sơn chỉ sau 5 năm thành công trong cuộc tranh hùng cùng Trịnh Nguyễn mà đã dám xưng Ðế thì đủ thấy nhà Tây Sơn phải dựa vào một nền tảng cơ sở vững chắt nào đó mới dám làm như thế. Nền tảng cơ sở đó là có được một hậu cần người Thượng và các phiên vương Chiêm Thành hềt lòng thần phục ủng hộ. Các sắc dân Thượng miền Cao Nguyên xưa là thần tử của Chiêm Thành, vì mang họa vong quốc nên các phiên vương Chiêm không ưa gì chúa Nguyễn nhất là dưới thời Trương Phúc Loan, quan quân lộng hành làm nhiều điều bất công càng làm cho dân chúng khắp nơi Kinh, Thượng, Chàm thêm oán ghét nên khi nhà Tây Sơn kéo binh đánh chúa Nguyễn thì tất cả miền Cao Nguyên đến duyên hải khắp nơi từ Kontum, Pleiku. Ðắc Lắc, Ban Mê Thuộc đến Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận đều nức lòng ủng hộ nhà Tây Sơn, chúa Nguyễn phải chạy về đất Gia Ðịnh cố thủ. Nhìn cuộc triệt thoái của quan quân nhà Nguyễn, người viết chợt liên tưởng đến cuộc triệt thoái Cao Nguyên, Quân Ðoàn II của Quân Lực VNCH và tại chiến trường Trị-Thiên Quân Ðoàn I năm 1975 đã làm tinh thần dân quân suy sụp và nhanh chóng dẫn đến tan rã. Trong quyển hồi ký chiến tranh “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên’’ và quyển “Những Uất Hân Trong Trận Chiến Mất Nước 1975’’, tác giả Phạm Huấn có làm cuộc phỏng vấn cựu Trung Tướng Vĩnh Lộc, từng là Tư Lệnh Quân Ðoàn II tại chiến trường Cao Nguyên vào những năm 1965-1968, bằng cái nhìn sâu sắc trong chiến lược, Tướng Vĩnh Lộc trước sau vẫn cho rằng vấn đề Thượng vận  là yếu tố hệ trọng, ảnh hưởng đến toàn bộ chiến lược tranh thắng tại chiến trường Cao Nguyên, Tướng Vĩnh Lộc còn phát họa nên kế hoạch hành quân tái chiếm lại Ban Mê Thuộc trong vòng 48 giờ, nhưng việc này đã không được thực hiện khi Thiệu cho tiến hành chiến lược co cụm “Ðầu Bé Ðít To’’, bỏ Vùng II và Vùng I cho Cộng Sản chiếm, rút về tái phối trí, giữ lấy Vùng III và Vùng IV tiếp tục chiến đấu. Nhưng sự việc đã hoàn tòan đi ra ngoài sự dự tính. Ban Mê Thuộc thất thủ ngày 11.2.1975, trong ba ngày 12,13 và 14 kế tiếp vị Tư Lệnh Quân Ðoàn II, Tướng Phạm Văn Phú đã có kế hoạch phối trí, tái chiếm lại Ban Mê Thuộc; Ðang trên đường tiếp vận, nhiều cánh quân ở khắp các mặt trận đang  túc trực, sẵn sàng  mở những mũi dùi tiến vào Ban Mê Thuộc thì trưa ngày 14 sau cuộc hộp tại Cam Ranh giữa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng các tướng Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Ðặng Văn Quang và Phạm Văn Phú đã đi đến quyết định rút bỏ Cao Nguyên. Cuộc rút quân kéo dài 9 ngày trên tuyến đường dài 300 cây số từ Pleiku về Phú Bổn, Phú Yên đã trở thành một cuộc di tản đầy bi thảm, làm mục tiêu cho lực lượng CS truy kích, dân và quân mỗi ngày duy chuyển chậm dần vì ứ động kẹt cứng với nhau đã trở thành đích điểm cho CS mặc sức tập bắng, nã trọng pháo. Hàng ngũ dân quân mỗi lúc một rối loạn, hầu như chôn chân tại chổ khi về tới Phú Bổn – Phú Yên, cho dù nhiều binh chủng thiện chiến nhiều lần tình nguyện đi cản hậu đánh trả lại lực lượng truy kích CS, nhưng trong hoàn cảnh tiến thoái đều bị động như thế thì cán cân thiện chiến không thể đặt ra được nữa khi tứ bề chân tay đã bị trói chặt vào hàng ngũ triệt thoái mà nguợc lại chỉ đánh dứ cầm chừng để bảo vệ đoàn quân tiếp tục duy chuyển. Cuộc triệt thoái đã trở thành một thảm họa làm suy sụp hết tinh thần chiến đấu của Quân Lực VNCH. Theo chi tiết trong tư liệu của nhà báo chiến trường Phạm Huấn, người đã luôn theo sát từng giờ, từng ngày bên vị Tư Lệnh Quân Ðoàn II Phạm Văn Phú và là người có mặt trong suốt cuộc triệt thoái, am hiểu nhiều tình hình và kế hoạch của các cấp chỉ huy đã cho biết không một chiến xa, một khẩu trọng pháo nào mang về tới được Phú Yên. Như thế chiến lược “Ðầu Bé Ðít To“ mà ông Thiệu dự định thực hiện đã hoàn toàn thất bại. Trên 80 phần trăm quân số trong cuộc rút quân bị tổn thất, và trầm trọng hơn cả là hệ thống chỉ huy cùng kỹ luật quân đội đã bị rối loạn thì lấy gì để tiếp tục chiến đấu? Ðây là một bài học phải trả bằng máu và nước mắt mà trong suốt cuộc chiến tranh 21 năm chống cộng từ sau hiệp định Genève 1954 phân chia đất nước cho đến năm 1975, hoàn toàn chưa có được một cấp chỉ huy nào có đuợc tài năng điều khiển một cuộc triệt thoái cấp Quân Ðoàn. Triệt thoái thành công bằng mọi gía là phải mang yếu tố nhanh chóng, bất ngờ, không để cho đối  phương dự đoán được kế hoạch, và nếu có biết ra thì cũng đã cao bay xa chạy thì mới thật là kế hoạch mật nhiện thành công nhất. Mọi khó khăn nhất cho cuộc rút quân là dân và quân mà trộn lẫn với nhau thì thật không có cách nào đi nhanh được, mà ngược lại còn tạo nên rối loạn mất tinh thần, thà để dân ở lại vùng đất cho đối phương tạm chiếm, bảo vệ chủ lực quân đội bằng mọi gía để chờ cơ hội tái chiếm, giải phóng lại toàn thể dân nước mới là thượng sách. Nhưng cuộc triệt thoái ở cấp Quân đoàn qúa đông đảo và to lớn khắp các mặt trận, do đó yếu tố nhanh chóng và bất ngờ khó có thể đặt ra được nữa, mọi động tịnh ngày hôm trước đến hôm sau là đối phương đã biết rõ. Trong lịch sử chiến tranh chỉ có những cuộc thua trận to lớn như Napoléon, Hitler, Thoát Hoan, Tôn Sĩ Nghị…mới diễn ra những cuộc triệt thoái về nước, còn như đang ở thế cân bằng với đối phương thì cách hay nhất là phải thủ thành quyết chiến, kéo dài thời gian để tìm một giải pháp chính trị an toàn ngõ hầu có thể bảo tồn được tất cả quân đội hơn là tự ý rút quân thì chắc chắn sẽ dẫn đến những hậu qủa nguy hại, tự giết lấy mình.. Ngày 30.4.1975 Tướng Phạm Văn Phú đã tự xử mình bằng cái chết theo nạn nước, dù cuộc chiến 21 năm chống cộng thất bại bởi Ðồng Minh và các phù thủy chính trị Quốc tế, kể cả Việt Nam phản bội, đã như đè nặng lên đôi vai, thần trí và máu xương nhũng người con yêu trung thành với Tổ quốc nhất trong những gìờ phúc sau cùng của cuộc chiến, vẫn muốn được nằm xuống bên cạnh đồng bào và chiến hữu, muốn được một lần gói thân về lại cội nguồn đất mẹ. Mở đầu từ cuộc triệt thoái Cao Nguyên đã dần bức tử hết những anh hùng trong cuộc chiến, nhưng thành bại không thể luận anh hùng khi Tướng Phú đã tận lực hết khả năng và trách nhiệm của mình, cách tự xử hào hùng theo nạn nước cũng đã nói lên ý thức chân chính  là dù hay hoặc dỡ vẫn sẵn sàng nhận chịu mọi trách nhiệm về hành động của mình. Cùng các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai và biết bao chiến hữu vô số kể nữa đã lấy cái chết để nói lên điều chân chính đó. Tổ quốc không đòi hỏi gì hơn nơi những nguời con đã tận lực hết khả năng và trách nhiệm, cho dù thất bại nhưng đức độ của các vị Tướng trên cũng đã đi vào lịch sử bằng cửa chính chứ không như một số vị đã từng bước tới địa vị Tướng, đã từng đứng trên thiên hạ làm mẫu mực cho mọi người noi theo mà lại lo cao bay xa chạy trước, giờ còn tìm cách thập thò về nước, có khác nào xúi dục dân chúng cùng chịu qui hàng thế lực ma đạo CS, một mai khi cường quyền sụp đổ, mà thực sự nó đã sụp đổ khắp nơi rồi, lúc đó không phải do chính qúi vị làm cho nó sụp thì quí vị đã tự ý đi vào lịch sử bằng cửa hậu, chổ đứng chắc sẽ rất u buồn, đã tự chọn thì còn biết trách cứ vào ai được nữa!..

TrietthoaiCaonguyen1975

Cuộc hội binh về núi Tam Ðiệp do Tiết Chế Ngô Văn Sở điều động dưới thời Tây Sơn đã đạt kết qủa tốt khắp các mặt trận, có thể so sánh đây là cuộc thoái binh lớn lao như Quân lực VNCH tại Cao Nguyên năm 1975. Các lộ quân khắp nơi từ địa đầu giới tuyến Việt Bắc đến miền duyên hải như Lạng Sơn, Kinh Bắc, Thái Nguyên, Sơn Tây, Hải Dương…được lệnh trể nhất là trong vòng năm ngày phải hội tụ đầy đủ về ngoại thành Thăng Long bên bờ sông Nhị để tiếp tục mở cuộc triệt thoái về núi Tam Ðiệp. Phần thủy quân giao cho trấn Sơn Nam túc trực chuẩn bị đầy đủ thuyền bè đợi các lộ thủy quân cùng hội về thì tấn phát. Ðoạn đường dài không thua gì  Pleiku – Phu Bổn – Phú Yên trong cuộc triệt thoái Cao Nguyên 1975. Quân đội Tây Sơn thủy lục hai mặt đóng giáp từ núi Tam Ðiệp thông ra mặt biển vào tới hải phận Biện Sơn, đặt hai xứ Thanh, Nghệ trong tình trạng khẩn trương báo động. Cuộc triệt thoái được dể dàng tốt đẹp, ngoại trừ Nội Hầu Phan Văn Lân vì không cam tâm rút lui khi hay tin giặc Thanh đã tiến qua khỏi aỉ Nam Quan nên mới dẫn theo 1000 tinh binh, kéo lên mặt Bắc thử sức với quân Thanh. Ðúng như sự tiên đoán của mưu sĩ Ngô Thời Nhậm, quân Thanh mới tới nên sức lực và khí thế còn đầy mạnh mẻ hăng hái, 1000 tinh binh Nội Hầu Lân dẫn theo đều tan rã, chỉ còn mấy chục người thất thiểu trở về. Việc làm của Nội Hầu Lân không khác gì như việc mạo hiểm, trong trận cờ chưa kịp điều quân phối trí được trong việc phòng thủ đất nhà mà đã vội một mình đem Mã đơn độc sang sông, không có sự yểm trợ nào nơi những cánh quân khác có Xa, Pháo, Mã hoặc Chốt thì không thể tranh thắng được với những đạo quân gồm Xa Pháo Mã kể cả Tướng đông gấp ngàn lần đang toàn lực khởi thế công, hùng hổ tiến sâu vào nội địa nước ta. Nội Hầu Lân mà còn mạng trở về là điều hết sức may mắn.

Với khí thế hùng hậu phối hợp giữ ba đạo quân trong thế hổ trợ giữ chính binh, kỳ binh và viện binh, giặc Thanh đang mở ba mủi dùi từ mặt Tuyên Quang – Cao Bằng – Lạng Sơn tiến sâu vào nội địa nước ta. Binh số các tỉnh Vân Nam, Quí Châu, Quảng Ðông, Quảng Tây gộp lại trên 20 vạn, giặc Thanh nghĩ sẽ đủ sức làm cỏ nước ta. Chính vì tránh thế hung hãn, những đòn tối độc của giặc tung ra ở bước đầu như cuộc xâm lăng của nhà Nguyên vào nước ta ở thế kỷ thứ XIII mà toàn Bộ Tham Mưu dưới quyền Tiết Chế Ngô Văn Sở đã đi đến quyết định bỏ ngõ tất cả mọi mặt trận kể cả Bắc Thành ( Thăng Long lúc đó  được đổi tên là Bắc Thành vì nhà Tây Sơn không chọn nơi này làm kinh đô có vua cai trị) để bảo toàn chủ lực, tất cả các lộ quân đồng lúc phải triệt thoái về núi Tam Ðiệp, thủy bộ hai mặt liên kết một chiến tuyến dài ra tới hải phận Biện Sơn và tức tốc cấp báo về Phú Xuân cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ biết.

Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân, Bắc Bình Vương làm lễ tế cáo Trời Ðất, lên ngôi Hoàng Ðế lấy niên hiệu là Quang Trung, ngay hôm đăng quang nhà vua ra lệnh tấn phát, đốc xuất tất cả mọi tướng sĩ thủy bộ hai mặt dưới cờ đồng tiến nhanh ra Nghệ An để chuẩn bị hiệp cùng các đạo quân ở núi Tam Ðiệp và mở những mũi dùi tiến thẳng ra đất Bắc, quyết đánh cho các tướng sĩ nhà Thanh không còn một manh giáp để thu hồi lại toàn thể chủ quyền quốc gia trên khắp mọi miền đất nước.

Ðể đối lại với ba đạo quân Thanh, vua Quang Trung cũng đã cho mở ra ba mủi dùi tấn công. Hai đạo quân bên phải và trái, mỗi đạo lại phân thêm ra làm hai cánh để tạo thế trận ứng tiếp, gây thanh thế hư thực, đồng thời có nhiệm vụ bao vây tiêu diệt địch khi trung quân của vua Quang Trung từ núi Tam Ðiệp tiến thẳng ra Sơn Nam, Thanh Liêm, Nhật Tảo, Phú Xuyên, Hà Hồi, Ngọc Hồi, Thăng Long cả một phòng tuyến dài do sự xếp đặt của Tôn Sĩ Nghị đều bị đánh tan rã trong chớp nhoáng. Nhìn qua thì thấy rõ quân Nam có ba đạo chính binh tiến ra giải phóng Bắc Hà, nhưng trong chính binh lại có cả kỳ binh và viện binh, bao gồm cả năm mủi tấn công, lối dụng binh thần tốc của vua Quang Trung, hư thực làm cho đối phương không biết đường nào trở tay như thế thì việc đánh bại đại quân Tôn Sĩ Nghị, lấy đầu hàng ngũ tướng tá tham mưu nhà Thanh dể dàng như lật bàn tay. Các danh tướng từ xưa đến nay dùng quân số ít nhưng vẫn áp đảo được quân số đông của đối phương là nhờ tài quyền biến, kế hoạch hành quân đầy chu toàn và mật nhiệm hơn người trong lẽ “tri kỷ, tri bỉ, bách chiến, bách thắng.“ Ðiều này trước khi xuất trận, vua Quang Trung đã tuyên bố trước ba quân trong tiếng reo hò long trời dậy đất, khí thế hào hùng rung chuyển cả sông núi:

“Ta đến mà địch không biết, là địch ngủ ta thức. Ta đánh mà địch không đề phòng là ta chém kẻ tay không“

Một đạo do Ðại Ðô Ðốc Nguyễn Văn Lộc và Ðại Ðô Ðốc Nguyễn Văn Tuyết chỉ huy gồm cả thủy bộ hai mặt, Ðại Ðô Ðốc Lộc mang quân án ngữ vùng Phượng Nhã, Yên Thế, Lạng Sơn chận đường rút lui của địch, Ðại Ðô Ðốc Tuyết chỉ huy thủy binh và giữ nhiệm vụ kinh lược Hải Dương, giữ thế tiến thủ nơi mặt Ðông, phòng khi tình thế chiến trường cần viện binh ở các tỉnh thì thủy bộ hai mặt có thể dể dàng ứng tiếp liên lạc. Nhưng kế hoạch viện binh chỉ để phòng hậu họan, mà thực sự không hề được xử dụng tới khi quân ta đã hoàn toàn làm chủ tình hình ở khắp các mặt trận.

Một đạo bộ binh Thiết Giáp gồm ngựa chiến và voi chiến dưới quyền chỉ huy của Ðại Ðô Ðốc Nguyễn Văn Bảo và Ðại Ðô Ðốc Ðặng Văn Long. Ðại Ðô Ðốc Bảo chỉ huy tượng binh từ vùng Sơn Minh (Ứng Hòa, Hà Ðông) tiến ra làng Ðại Áng (Thanh Trì, Hà Ðông) để tạo thế gọng kềm tiêu diệt quân Thanh từ đồn Ngọc Hồi tháo chạy khi bị trung quân của vua Quang Trung đánh vở ra từng mảnh vụn. Ðại Ðô Ðốc Long chỉ huy mã binh tiến từ huyện Chương Ðức vào, các tiền đồn Yên Quyết, Nhân Mục lần lược bị hạ, đến Khương Thượng là chốt cuối cùng nằm về hướng tây nam thành Thăng Long, từ mờ sáng tinh sương, dân chúng và binh sĩ đã dùng rơm quấn cùng củi khô, tẩm dầu đốt cháy rực khắp bốn mặt đồn, quân sĩ reo hò vang dậy, hăng hái phá đồn, tiến như vũ bảo phá sập các đê điều, chẳng bao lâu  binh mã của Ðại Ðô Ðốc Long  đã tràn ngập hết các mặt đồn, tướng chỉ huy là Sầm Nghi Ðống và binh sĩ dưói quyền hết sức kinh hải, không chống cự nổi sức đánh như che tre của quân Nam. Ðống cùng một số tùy tùng bỏ trốn ra gò Ðống Ða, đến đường cùng phải treo cổ tự tử. Một lần nữa gọng kềm lại mở ra thêm một cánh nơi Ðại Ðô Ðốc Long, quân Thanh không còn bị lưỡng đầu thọ địch nữa mà là bị tam đầu thọ địch, Ðại bản doanh Tây Long nơi Tôn Sĩ Nghị đóng quân và khắp trong ngoài kinh thành Thăng Long trong thời gian ngắn quân Thanh đều bị đánh tan rã bởi ba gọng kềm khép chặt của Ðại Ðô Ðốc Long, Ðại Ðô Ðốc Bảo, và trung quân của vua Quang Trung.

Với tài điều binh trăm trận trăm thắng của vua Quang Trung thì chắc chắn người như Tôn Sĩ Nghị một tướng soái quen sống trong thời bình nhiều hơn là chiến loạn thì làm sao có thể sánh với thiên tài quân sự Nguyễn Huệ đã từng Nam chinh, Bắc chiến, dụng binh từ thửa thiếu thời ngang dọc khắp các trận mạc, lập nghiệp trên mình voi, yên ngựa để có ngày bước lên ngôi Hoàng Ðế. Qủa thật Tôn Sĩ Nghị không biết người biết mình chút nào cả nên mới điên rồ mạo hiểm mang quân vào nước Ðại Việt để chuốt lấy những thảm bại nhục nhã. Nghị dù có thông minh tài trí mấy cũng không ngờ rằng lối dụng binh của vua Quang Trung qúa thần tốc, tiến thoái tựa mây trôi sấm bảo, mới ngày nào Nghị còn mơ màng trong trướng phủ, đắc ý nghĩ đến chiến lược tầm ăn lá dâu, dẫm lại con đường xưa cũ của Lữ Nghị, Hoàng Phúc, Trương Phụ thời nhà Minh đã đi là cố thôn tính đô hộ, đồng hóa Ðại Việt dần thành một quận huyện của Tàu. Nhưng than ôi! Giấc hồ chưa thực hiện, nơi trướng phủ còn đang mơ màng thì có tin sét đánh ngang tai: Hạ Hồi, Ngọc Hồi, Yên Quyết, Nhân Mục, Khương Thượng đến Hải Dương đều thất thủ, Ðề Ðốc Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Ðống và các tướng tiên phong Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng đều tử trận. Tôn Sĩ Nghị điếng hồn vì chân tay tả hữu của mình hoàn toàn bị chặt đứt. Một chiến tuyến dài từ niềm duyên hải Sơn Nam nay thuộc Nam Ðịnh lên tới Bắc Thành-Thăng Long, ra tới mặt trận Hải Dương đều tan rã trong một thời gian ngắn. Nghị muốn cầu viện cánh quân Vân Nam-Qúi Châu đang đóng ở Sơn Tây thì còn xa xôi qúa! Không biềt chừng nghe tin chủ tướng đại bại nên hàng ngũ tướng tá đã khiếp đảm, sợ phải bị mang họa như Liễu Thăng năm xưa, và có thể đang trên đường tháo lui về lại cố quốc. Việc này Sĩ Nghị đã tiên đoán đúng nên trong trăm ngàn kế, chỉ có kế trực chỉ Nam Quan, quăng tất cả ấn tín, áo mão cân đai, cờ quạt chạy tháo thân về lại cố quốc là thượng sách. Chiến lược tầm ăn lá dâu, bước lại con đường thời nhà Minh trước, trong bước đầu đã hoàn toàn bị vụa Quang Trung đập tan nát, vẫy chết từ trong trứng nước. Vua Quang Trung đã thấu rõ tận tường bước hành binh của Tôn Sĩ Nghị, xem đó chẳng khác sự múa may quay cuồng của đàn dê đứng trước mặt chúa sơn lâm. việc này đã được vua Quang Trung khẳng định trong lần hội quân tại núi Tam Ðiệp:

“Chúng nó sang phen này là tự mua lấy cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này, thân coi viêc quân, đánh giữ đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc.“

Chiều ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (30-1-1789), Vua Quang Trung cùng toàn quân tiến vào thành Thăng Long trong nổi vui mừng hạnh ngộ giữa dân quân đón chào ngày giải phóng, trong tiếng reo hò vang dậy khắp kinh thành.Chiếc áo bào đỏ tượng trưng cho ngọn cờ đào và chiếc khăn vàng quấn trên cổ áo Vua Quang Trung tượng trưng cho mặt trời công nghĩa đều đã ngã màu thuốc súng sạm đen sau bao ngày chỉ huy quân binh ngoài mặt trận. Oai linh của dân tộc một lần nữa đã làm sống dậy những trang sử chống ngoại xâm đầy hào hùng. Thành Thăng Long khắp nơi đều tưng bừng mở hội ăn tết khai hạ theo lời hứa của Vua Quang Trung sau bảy ngày quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi. Ngọn cờ đào in hình mặt trời vàng đứng giữa, hòa lẫn cùng anh linh, máu xương các chiến sĩ đã gốp công trong khắp cuộc chinh phạt, đập tan nát mọi ý đồ xâm lăng của đế quốc Bắc Phương, hôm nay đứng sừng sửng tung bay trên kỳ đài  Thăng Long.

BanDoDaiPhaQuanThanh

 

@Phạm Thiên Thơ

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

“Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu”

Tháng Tư 2014
H B T N S B C
« Th3   Th5 »
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  
%d bloggers like this: