Trang chủ » Võ Thuật » CÁCH MẠNG TÂM THÂN – VOVINAM & VIỆT VÕ ĐẠO

CÁCH MẠNG TÂM THÂN – VOVINAM & VIỆT VÕ ĐẠO

Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân

 

Nhập Ðề

                                                                                                                           @VSCM Lê Sáng

 

         Ngày nay các nhà giáo dục đều nhận định: Một hệ thống giáo dục chỉ đuợc coi như là hoàn chỉnh khi giúp con người phát triển đều cả ba mặt: Tâm – Trí – Thể. Các hệ thống giáo dục hiện nay tuy đã chú ý đến việc rèn luyện thân thể song song với việc nâng cao trí thức, nhưng ngoài những điều giảng dạy về đạo đức vẫn chưa hình thành đuợc phương pháp điều tâm để giúp con người thể hiện đuợc những hiểu biết về đạo đức trong cuộc sống. Cách Mạng Tâm Thân của Vovinam-Việt Võ Đạo với hệ thống kỷ thuật võ học, với tư tưởng võ đạo, với phương pháp tu dưỡng điều tâm sẽ góp phần hoàn chỉnh hệ thống giáo dục hiện đại.

Tại Sao Phải Cách Mạng Cả Tâm Và Thân?

        Sáng Tổ Vovinam-Việt Võ Đạo của chúng ta đã quay về tự nhìn vào bản thân để tìm ra con đuờng cách mạng tâm thân. Tức là con đuờng đào tạo ra những con người toàn diện, những con người “khỏe” về cả tinh thần và thể chất.

        Nếu chỉ “khỏe” về tinh thần không thôi, sẽ không đủ sức chịu đựng những gian lao, vất vả, sẽ gục ngã vì kiệt sức. Các triết gia từ Đông sang Tây, các bậc chí si đã nêu biết bao tấm gương xác định tính dung cảm không bờ bến của mình, cung chỉ để lại cho hậu thế những xúc động và tình cảm khâm phục, tiếc thương vô hạn. Ngược lại, chỉ “khỏe” về thể chất nhân thân cung không đáp ứng đuợc toàn diện về lý tưởng với tổ quốc và nhân loại. Trong lịch sử rất nhiều dung tướng, lực si nổi tiếng một thời rồi thôi…

        Phải “khỏe” về cả tinh thần lẫn thể chất. Triết học, đạo học và thể dục thể thao có thể giải quyết đuợc một phần, chứ không giải quyết đuợc toàn bộ vấn đề. Như vậy, phải “cách mạng” lại con người, cả tâm và thân, vừa giải phóng con người ra khỏi những yếu hèn về sinh lý cơ thể, vừa giải phóng con người ra khỏi những bạc nhược, thấp kém về tinh thần, đồng thời tổng hợp hài hòa cả hai “thế mạnh” đó lại, mới có thể đáp ứng đuợc những yêu cầu về con người, xã hội, đất nước và nhân loại.

Tương Liên Giữa Tâm Và Thân: Giữ Và Phát Triển Chân Tâm Và Thực Thân Trong Cuộc Sống

        Như trên, chúng ta đã phân tích và nhận định: Cách Mạng Tâm Thân là một kết hợp hài hòa sự thay đổi, phát triển tổng hợp cả hai thành phần sinh hoạt tinh thần và sinh hoạt thể chất của con người theo tiêu hướng: khỏe mình, lợi nhà, ích nước và hòa hợp với người.

        Tình trạng sức khỏe có liên quan mật thiết đến trạng thái tâm lý. Đa số các bệnh tật đều bắt nguồn từ những căng thẳng của nội tâm. Buồn rầu, thất vọng, lo lắng, bực bội hoặc cáu kỉnh… tạo nên những chấn động gây ảnh hưởng và làm toàn bộ hệ thần kinh suy sụp, khiếm mầm bệnh phát sinh. Ngành bệnh lý học và tâm sinh lý học đuợc khai triển đó.

        Trong mỗi con người chúng ta luôn luôn có sự thay đổi cả thân lẫn tâm, hoặc theo chiều hướng xấu đi hoặc theo chiều hướng tốt hơn. Muốn thân thể khỏe mạnh phải năng vận động tu dưỡng tâm và thân, để có sự phát triển hài hòa, mới có thể khỏe mạnh, sống vui. Ngoài ra, còn phải tu tâm luyện tánh. Phương pháp nhu khí công quyền của Vovinam-Việt Võ Đạo sẽ giúp cho người tập hóa giải đuợc sự căn thẳng của thần kinh qua sự điều hòa tim mạch. Nhịp tim có điều hòa, hệ thần kinh có quân bình, tâm hồn ta mới an nhiên, thanh thoát.

        Cách Mạng Tâm Thân giúp chúng ta thay đổi, cải tạo bằng cách tu tập, để tham gia vào sinh hoạt xã hội đuợc tích cực hơn, thành công hơn, cũng như ý chí phải ứng dụng vào thực tế hành động. Sự sinh hoạt xã hội là sinh hoạt của con người, do con người mà có. Nếu con người lành mạnh về cả tâm và thân, sinh hoạt xã hội sẽ diễn ra trong an bình, trật tự, tạo an sinh xã hội cho tất cả mọi người. Cho dù gia đình có gặp khó khăn, đời sống xã hội có bất ổn đến mức tối đa, với nội tâm bình ổn, ta sẽ bớt đuợc những căng thẳng, những âu lo phiền muộn để giữ đuợc quan hệ tốt với tha nhân mà vượt thắng chính mình và ngoại cảnh.

        Có chân tâm mới có người thật người. Chỉ có những con người thật người mới có xã hội nhân bản. Có người thật người, có xã hội nhân bản, thế giới loài người mới thật có an bình trật tự. Mọi vấn nạn của thế giới hiện nay sẽ đuợc giải quyết tận gốc rễ; nếu mọi người, ngoài việc lo nâng cao đời sống vật chất còn biết rèn luyện để điều tâm tự thắng.

Luyện Thân – Điều Tâm

        Từ tâm đạo, sức sống đã cấy tự thân mỗi người, chúng ta phải biết khơi dậy sức sống, nuôi sức sống và truyền sức sống cho đời.

        Về võ thuật, Vovinam-Việt Võ Đạo giúp chúng ta phương pháp tự vệ chiến đấu, mà muốn tự vệ chiến đấu hữu hiệu nhất, chúng ta phải thấm nhuần tinh thần võ đạo, phải biết tự chiến thắng, phải tìm lại con người thật của chính mình, tức là phải có tâm đạo.

        Do vậy, tuy có tổ chức thi đua tranh giải để khích động phong trào, thu hút quần chúng, sự luyện tập của chúng ta không nhằm trở thành nhà vô địch quyền cước nhưng lại nghèo nàn về trí tuệ, lệch lạch về tâm hồn. Võ (luyện thân) chỉ là một trong ba phần: Tâm – Trí – Thể mà mỗi chúng ta cần không ngừng hoàn thiện nâng cao. Nếu quá chú trọng để chỉ lo trau giồi một phần nào đó, coi nhẹ hai phần còn lại, sự phát triển con người thiếu toàn diện, không cân đối sẽ khó trở thành con người có nếp sống đẹp, biết sống hiển ích và hiển ích có hiệu quả.

        Sức sống cấy từ mình, phải lấy mình làm gương nuôi sức sống: nghi, nói sao làm vậy. Phải biểu lộ nhân cách hướng thượng thanh cao, biết quên mình cho tha nhân, bỏ tư lợi vào công ích, toàn tâm toàn ý dấn thân cho lý tưởng. Một nhân cách đẹp, một tấm lòng vị tha, nhiệt tình giúp tiến, hiển ích cho đời, bao giờ cung lôi cuốn đuợc người đến với ta, giúp ta dễ dàng trong sứ vụ truyền sức sống của hành trình Cách Mạng Tâm Thân.

Phát Đoan

        Xã hội chìm đắm trong những công tác, những dịch vụ. Nhu cầu của xã hội là công việc, là dịch vụ. Như đâu là nguyên động lực và tác nhân của những công tác, những dịch vụ đó? Nguời.

        Tương quan giữa Người và Việc đuợc đặt ra trên một trục tam phân, hoặc một “thế chân vạc”: Người – Việc – Xã Hội. Xã Hội sinh tạo ra Việc. Bởi cần Việc nên cần Người. Vì Người là xuất phát điểm của Việc. Tương quan này được duy trì trong nhiều ngàn năm, đã nâng cao con người lên một cao đỉnh, một cao điểm đặc biệt trong đời sống, tới mức tưởng như không có Người là Việc bị hủy diệt, tạo khủng hoảng cho Xã Hội.

        Phải chờ đến lúc xã hội nẩy sinh ra những bạo chúa, giá trị con người mới đuợc xét lại. Tần Thủy Hoàng, vì muốn xây Vạn Lý Trường Thành đã bắt phu hàng trăm ngàn người, trong đó nhiều chục ngàn người phải ngã gục để xây thành. Neron muốn tìm thi cảm, đã đốt thành La Mã để đuợc trông thấy tận mắt, nghe tận tai cảnh nhân dân kêu khóc. Lê Ngọa Triều giết người chỉ vì muốn tìm những thú vui giải trí bệnh hoạn. Tất cả đã hy sinh Người cho Việc.

        Tuy nhiên, tương quan giữa Người và Việt nhiều khi còn đi xa hon, và có những định nghia trừu tượng hơn. Ví dụ, khi ta nói: Thế hệ này phải hy sinh cho thế hệ sau tồn tại và hạnh phúc, là lúc chúng ta xác định tương quan giữa Người và Việc thật mơ hồ. Nhân danh Người để hy sinh Người, hay nhân danh Việc để hy sinh Ngườỉ Thật phức tạp!

        Phải chờ tới lúc khoa học, kỹ thuật thật sự xen lấn vào mối tương quan đó, chúng ta mới thấy rõ hiểm họa Việc đuợc ưu đãi hơn Người. Người sẵn sàng hy sinh hay bị hy sinh cho một Việc, một dụng cụ khoa học kỹ thuật. Đem thân mình độn lỗ châu mai, xích chân vào súng hay xe tăng, sa thải nhân công vì đã có phát minh kho học kỹ thuật mới thay thế… đều giống nhau từ nguyên tắc: muốn tiến bộ phải hy sinh Người cho Việc.

        Tại sao giá trị Người, càng ngày càng bị băng hoại như vậỷ Trở lại vấn đề nguyên khởi: vì sự xác định tương quan giữa Người và Việc còn nhiều thiếu sót phải bổ khuyết. Rút cuộc: tiền bán thế kỷ 20 đã đuợc thử nghiệm nguyên tắc “Người phục vụ Việc”. Rồi sau hai cuộc Thế Giới Đại Chiến: Người chết rất nhiều để phục vụ cho những Việc đuợc nhân danh Người. Hiểm họa nhân loại bị tiêu diệt làm cả nhân loại hoảng hốt. Tới lúc đó, họ mới chịu chấp nhận chân lý: “chính Người mới là gốc của Việc”. Người điều khiển Việc, Người phụ trách Việc. Lương tâm nhân loại sau một vòng chu lưu, lại trở về điểm xuất phát: “Phải lo cho Người trước đã”. Việc phải phục vụ Người. Khoa Học Kỹ Thuật phải phục vụ Con Người.

        Cả thế giới đều ồn ào tìm đuờng trở về nguồn nhân bản. Các nhà bác học, sau khi phát minh ra những hóa chất và động lực tiêu diệt con người, đều la hoảng trước hiểm họa diệt vong nhân loại. Trong lúc đó, một dân tộc bại trận cố gắng rèn luyện Người để điều khiển Việc, và đã thành công: dân tộc Nhật Bản. Tinh thần Nhật Võ Đạo đuợc phát huy để rèn luyện Người điều khiển Việc, khác hẳn với một số dân tộc thắng trận nhưng tinh thần bị suy sụp, vì lúng túng trước mối tương quan giữa Người và Việc.

        Cố Võ Sư Sáng Tổ Vovinam – Việt Võ Đạo đã nhìn thấy mối tương quan đó từ năm 1938. Nhu một triết nhân, ông chủ trương uốn nắn “Việc” phục vụ “Người”. Muốn thế, phải bắt đầu lại từ chỗ bắt đầu. Hãy làm một “Việc” cách mạng: cách mạng từ bản thân mình trước. Không thể có một quốc gia hùng mạnh khi mọi công dân đều yếu đuối. Không thể có tài năng lỗi lại phát triển khi tâm thân con người bạc nhược. Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân đuợc khai sinh từ quan niệm đó, với mục đích đặt lại mối tương quan giữa Người và Việc, để đồng nhất ý chí trong việc thực hiện mối tương quan đó.

        Chúng ta sẽ lần lược tìm hiểu những khía cạnh về Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân.

        Trước hết, “Sơn Tây: Quê Hương Của Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân” sẽ giúp các môn sinh có khái niệm tiên khởi về xuất xứ của chủ thuyết chúng ta đang nghiên cứu, học hỏi, hầu có thể hiểu rõ truyền thống địa phương vị khai sáng.

        Thứ đến, “Khái Niệm Về Cách Mạng Tâm Thân” sẽ giúp môn sinh có một ý niệm so sánh giữa cách mạng chánh trị và cách mạng tâm thân.

        Kế đó, “Nguyên Tố Hình Thành Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân” sẽ giúp môn sinh hiểu rõ bối cảnh lịch sử đuong thời của sự xuất hiện chủ thuyết nầy, trong khung cảnh đấu tranh của dân tộc.

        Vào nội dung của chủ thuyết, chúng ta có hai tài liệu căn bản: “Thực Chất Và Tiêu Hướng Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân” “Bốn Định Lý Của Cách Mạng Tâm Thân”.

        Cuối cùng, phần “Phụ Lục” sẽ nêu lên những vấn đề liên hệ với Chủ Thuyết, để giúp người đọc mở rộng thêm cảm quan ra các quan niệm liên hệ tới Cách Mạng Tâm Thân.

        Tương quan giữa Người và Việc, không những đuợc minh xác, mà còn đua ra những tín niệm. Mong rằng ý hướng đó sẽ trình bầy tạm đầy đủ một cái “Khung” của Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân, để các môn sinh có những tài liệu căn bản nghiên cứu, học tập.

        Những vấn đề của Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân đã mở ra trước mắt chúng ta trong niềm kỳ vọng chung: rèn luyện lại Người, để điều hướng Việc, ngõ hầu xây dựng một Xã Hội Sinh tạo và phát triển.

Mùa Tưởng Niệm năm thứ XIII
1973

Sơn Tây: Quê Hương Của Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân

 

        Chủ thuyết “Cách Mạng Tâm Thân” do Cố Võ Sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc chủ xướng. Sơn Tây là sinh quán của Cố Võ Sư Sáng Tổ. Nơi nào có địa linh là nơi đó có nhân kiệt. Chúng ta tìm hiểu Sơn Tây, chính là chúng ta tìm hiểu những ảnh hưởng về truyền thống “địa linh nhân kiệt”, xuất xứ của chủ thuyết “Cách Mạng Tâm Thân.

Sơn Tây: Vùng Địa Linh đặc biệt của miền Bắc Việt Nam

        Vì địa thế, Sơn Tây được cấu tạo do đất phù sa của ba dòng sông lớn tại miền Bắc: sông Nhi (Hồng Hà), Sông Đà (Hắc Giang), và sông Lô. Ngoài ra Sơn Tây còn có những nhánh sông nhỏ là sông Con (Tích Giang) bắt nguồn từ Ba Vì chảy quanh vùng này, và sông Đáy (Hát Giang) chạy ven địa giới phía đông của tỉnh.

        “Nơi nào có núi cao là có thung lũng sâu“: câu thành ngữ của Tây Phương có thể áp dụng vào ngay Sơn Tây. Ngọn núi cao nhất của Sơn Tây là ngọn núi Ba Vì, đuợc coi là một ngọn núi nổi tiếng nhất trong lịch sử về cả biến cố và huyền thoại. Gần núi Ba Vì còn một hệ thống núi đồi trùng điệp do địa chất tạo nên, gọi là núi đá lửa Đa Chông. Tại phủ Quốc Oai còn một dãy núi đá vôi lớn chiếm cứ một dãy đất rộng lớn từ bờ sông Đáy tới bờ sông Đà nhờ địa thế hiểm trở, Sơn Tây đã trở thành một tỉnh đặc biệt nhất tại miền Bắc Việt: tuy thuộc vùng châu thổ phì nhiêu tiếp giáp vối vùng rừng núi nhưng khí hậu của Sơn Tây lại gần phù hợp với các tỉnh miền núi và không giống các tỉnh miền đồng bằng nào, nên dân chúng vừa có nếp sống khoáng đạt của người miền núi, vừa có nếp sống văn minh của người miền đồng bằng, và đã nhiều lần trở thành thủ đô của Việt Nam khi phủ Quốc Oai còn gọi là Phong Châu.

        Cùng với dãy núi đá vôi ở địa phận Quốc Oai, dẫy núi đá lửa Đa Chông, ngọn núi Ba Vì cao nhất nhiều huyền thoại, Sơn Tây còn có một giải đất đặc biệt phía tả ngạn sông Đà, đuợc tạo thành bởi những băng phiến nham thạch và mica, nên tất cả đều tùy theo cường độ tỏa quang và phản quang, mà tạo nên nhiều màu sắc đặc biệt, làm bối cảnh cho nhiều huyền thoại của dân tộc Việt.

Nhân Kiệt tại Sơn Tây

        Câu “Địa linh giả, nhân kiệt dã” có thể áp dụng ngay cho Sơn Tây, vùng đất khoáng đạt đặc biệt của Bắc Việt đã đào tạo nên rất nhiều nhân vật đạo học, huyền thoại, văn học và võ học.

        Mấy câu ca dao sau đây đã đuợc truyền tụng tại miền Bắc, đã chứng tỏ sự hâm mộ và khâm phục của dân chúng miền Bắc với “trai Sơn Tây”:

        Nhất cao là núi Ba Vì,
Chị còn vượt đuợc, xá gì cỏ may!
Nhất giỏi là trai Sơn Tây
Chị còn địch đuợc, nữa dây bìm bìm!

Nhân Tài Đạo Học và Huyền Thoại Điển Hình

        Nhân tài đạo học, huyền thoại điển hình của Sơn Tây có thể kể đến 2 người: Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Tuấn

        Từ Đạo Hạnh, nhủ danh là Lộ, con quan Đô Sát Từ Vinh dưới đời nhà Lý, là một vị cao tăng trúng cử khoa Bạch Liên, rồi ông sang Thiên Trúc học đạo về trả thù cho cha. Sau đó ông tịnh tu và thỉnh thoảng xuất hiện giúp đỡ nhiều người. Cuối cùng, ông về núi Sài Sơn và hóa ở đấy. Dân chúng địa phương hâm mộ, lập chùa thờ nơi ông hóa, gọi là chùa Thày, tên chữ là Thiên Phúc Tự. Hàng nâm chùa Thày mở hội vào ngày 7 tháng 3 âm lịch, kỷ niệm ngày ông viên tịch.

        Nguyễn Tuấn, tức Sơn Tinh, tức Tản Viên sơn thần, tu đạo ở núi Tản Viên, cùng gọi là núi Cánh Phượng, Phượng Hoàng Sơn, núi Ba Vì. Sau vì lòng trần chưa dứt, ông đi cầu hôn Mị Nương, con gái vua Hùng Vương thứ 18. Tục truyền rằng Thủy Tinh vì ghen tức, nổi mưa to gió lớn làm lụt lội một vùng, nhưng không đánh nổi Sơn Tinh. Khi Cao Biền sang nước ta đô hộ, lấy làm quái, nhiều lần dùng đạo gia làm phép phù thủy trừ yểm nhưnh thất bại. Hiên nay, trên núi còn lập đền thờ Tản Viên Sơn Thần.

                                  Nhân Vật Văn Học Điển Hình

        Nhân vật văn học điển hình có thể lấy ba danh si: Phùng Khắc Khoan, Vu Công Duệ, và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.

        Phùng Khắc Khoan, Tương truyền là anh em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đậu Tiến Si giúp nhà Lê Trung Hưng nhiều việc lớn. Đến khi khôi phục đuợc thành Thăng Long, ông sang Tàu và đuợc vua Tàu sắc phong là Lưỡng Quốc Trạng Nguyên. Tục truyền rằng ông nhiều lần xướng họa thơ với Liễu Hạnh Công Chúa lúc đã hóa đạo, và sau đứng ra lập đền thờ bà.

        Vu Công Duệ, người làng Trình Xá, huyện Sơn Vi, tỉnh Sơn Tây. Ông nổi tiếng về óc sáng tạo và khẩu tài từ lúc nhỏ, qua những giai thoại về con voi biết đi (lấy đất nặn hình, lấy bướm làm tai, lấy đỉa làm vòi, lấy cua làm chân), và lối khất nợ “bán gió, mua que” (bán quạt, mua tre nứa làm cốt quạt). Ông đỗ Trạng Nguyên năm 20 tuổi, năm Hồng Đức 23, đời Lê Thánh Tông, nổi tiếng trung trực. Sau nhà Mạc cướp ngôi, ông bất bình không chịu theo nhà Mạc, đeo ấn Ngự Sử nhảy xuống cửa bể Thần Phù tự trầm. Sáu mươi năm sau, hài cốt ông đuợc đem cải táng về quê nhà vào lúc nhà Lê Trung Hưng, và được phong làm “Thượng Đẳng Phúc Thần”.

        Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888 – 1939), nổi tiếng là một nhà thơ tài hoa, khí phái. Ông xuất bản nhiều sách rất có giá trị cho văn học Việt Nam: Tản Đà Tùng Văn, Tản Đà Văn Tập, Tản Đà Xuân Sắc, Thề Non Nước, Trần Ai Tri Kỷ, Giấc Mộng Lớn, Nhàn Tưởng, Đài Gương Truyện, Đại Học, Kinh Thi, Lên Sáu, Lên Tám, Khối Tình Con, Tản Đà Vận Văn, Vuong Thúy Kiều Chú Thích… Ông suốt đời theo đuổi nghề văn, và báo chí đầu tiên tại nước ta.

Nhân Vật Võ Học Điển Hình

        Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng: Ông xuất thân là tù trưởng, có sức khỏe khác thường, nổi tiếng đánh chết cọp, đẩy ngã trâu. Ông cùng em là Phùng Hải nổi tiếng là có sức khỏe, mang nổi ngàn cân, đi liền mười dặm. hào hiệp đuợc dân chúng tin phục. Bất bình với chánh sách cai trị hà khắc của người Tàu, ông dấy binh đánh đuổi Cao Chính Bình vào năm 791, tự lập làm vua đuợc 7 năm rồi mất. Hiện nay, tại xã Cam Lâm, cách Hà Nội, còn đền thờ ông gọi là đền thờ “Bố Cái Đại Vương”.

        Ngô Quyền: Vị khai sáng nhà Ngô, đã đáng tan quân Nam Hán tại Bạch Đằng Giang vào năm 938 hiện còn đền thờ tại xã Cam Lâm.

        Trưng Vương: gồm hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị, người Phong Châu: “Bà Trưng quê ở Phong Châu, giận người tham bạo thù chồng chẳng quên“…, dẫn binh đánh Tô Định làm vua đuợc bốn năm (40-43), sau bị danh tướng Mã Viện đánh bại, nhảy xuống sông Hát tự trầm. Hiện nay còn đền thờ tại Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây.

        Lộc Hộ: nổi tiếng là một võ si thời danh ở thế kỷ thứ 13, có công đáng đuổi đuợc giặc Tàu tràn vào Bạch Hạc và Sơn Vi, cứu giúp lương dân. Cảm mến ân đức, dân chúng lập đền thờ tại xã Đông Bang, cách Hà Nội 54 cây số.

        Và cuối cùng, Cố Võ Sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc (1912 – 1960): Người làng Hữu Bằng, Huyện Thạch Thất, Tỉnh Sơn Tây, khai sáng môn phái Vovinam – Việt Võ Đạo vào năm 1938. Suốt đời sống thanh đạm, để đào tạo môn sinh phục vụ cho dân tộc và xã hội. Ông là vị đã đề xướng ra “Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân”.

Khái Niệm Về Cách Mạng Tâm Thân

       Gần đây chúng ta thuờng nghe và nói đến danh từ “cách mạng”. Và chính môn phái Vovinam – Việt Võ Đạo của chúng ta cung đề xướng lên chủ thuyết “Cách Mạng Tâm Thân”. Vậy cách mạng là gì? Cách Mạng Tâm Thân là gì? Tại sao môn phái Vovinam – Việt Võ Đạo đề xướng chủ thuyết “Cách Mạng Tâm Thân”. Chúng ta lần lược tìm hiểu về thực nghia, về những dẫn chứng đối chiếu, trước khi đi vào chủ thuyết “Cách Mạng Tâm Thân”.

Thực Nghĩa Cách Mạng

        Kinh dịch, một trong những bộ sách cổ nhất của Đông phuong, đã đề cập tới danh từ “cách mạng” trong câu: Thiên địa cách nhi tới thời hành, Thang, Vu cách mạng thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân. Tức: trời đất đổi thay mà bốn mùa đuợc thành, vua Thang vua Vu đổi mạng là thuận với ý trời, ứng theo lòng người.

        Vậy “Cách” là thay đổi.

        “Mạng” (hay mệnh) mới đầu có nghia là “cái mà trời định, trời phó cho” như trong đoạn mở đầu sách Trung Dung: Thiên mệnh chi vị Tinh chi vị Đạo, Tu Đạo chi vi Giáo. Tức: cái mà trời phó cho, gọi là Tính; noi theo cái Tính ấy, gọi là Đạo; sửa cho hợp với Đạo, gọi là Giáo.

        Như thế “cái mà trời phó cho” đuợc hiểu theo một nghia rất rộng. Xưa ông vua được trời phó cho việc trị dân (thụ ư thiên mạng), nên chữ “mạng” bao hàm ý nghia chánh trị, trỏ trật tự xã hội. Rồi phần tinh anh của con người cung đuoc gọi là “mạng”, vì cung là “cái mà trời phó cho”. Về sau, danh từ cách mạng đuợc hiểu theo nghia chánh trị có nghia là thay đổi một trật tự xã hội (do trời phó cho một người, một nhóm người, một chánh đảng, một thể chế).

        Trên là định nghia chữ “cách mạng” theo văn hóa Trung Hoa. Còn đối với Tây phương, danh từ “cách mạng” (revolution) có thực nghia ra saỏ

        “Revolution”, gốc ở “revolutio”, ngữ La Tinh. Vào sâu thêm chút nữa, chúng ta thấy “revolutio” lại có gốc gác từ tiếng “revolver” có nghia là xoay chuyển lại (retourner). Trong tiếng “revolution” chúng a phân tích ra đuợc hai ngữ đoạn “re” và “evolutio” có nghia là phô diễn, trần thuật, khai triển. Anh, Pháp phỏng theo gọi là “évolution” (Pháp) và “evolution” (Anh) có nghia là diễn hóa (cung có người gọi là tiến trình, tiến hóa).

        Vậy “revolution” có thực nghia là “làm lại sự diễn hóa”, tương đồng với thực nghia danh từ cách mạng, có thực nghia là “thay đổi cái mà trời phó cho”.

Dẫn Chứng Đối Chiếu

        Văn minh Tây phuong nặng về vật chất, văn minh Đông phuong nặng về tinh thần.

        Vì vậy trong những chính cương, chính sách và khẩu hiệu của nguời Tây phương thường nặng về quyền lợi và vật chất, trong lúc những chính cương, chính sách và khẩu hiệu của người Đông phuong nặng về tinh thần.

        Cuộc cách mạng 1789 của Pháp, cuộc cách mạng 1917 của Nga vì thiên quá nhiều về quyền lợi vật chất và nhắm giải quyết tiên quyết những nhu cầu vật chất của dân chúng, nên phải trải qua một thời gian khá dài chia rẽ hỗn loạn.

        Đông phuong tuy không có nhiều cuộc cách mạng lớn, nhưng bên cạnh các nhu yếu về quyền lợi vật chất, những nhu yếu về tinh thần thường đuợc nêu lên, và đặt trên quyền lợi vật chất. Nếu hiểu “cách mạng” theo nghia chính trị tức “thay đổi một trật tự xã hội, một chế độ” thì cuộc du thuyết suốt 14 năm qua các nuớc chư hầu của Khổng Tử cung bao hàm một ý nghia cách mạng chính trị, vì đi đến đâu ông cung đua ra những đề nghị thay đổi toàn bộ chánh sự trong nước, bị những thế lực bảo thủ sở tại ngăn chặn nên không đuợc dùng. Lời than thở của Khổng Tử: “Thiên hạ vô đạo lâu rồi, các vua chúa không ai còn biết nghe theo lời khuyên bảo của ta” (Thiên hạ vô đạo cửu hỹ, mạc năng tông du) đã chứng tỏ tâm nguyện “thay đổi trật tự xã hội” của ông. Về già, Khổng Tử hốt nhiên thay đổi hẳn quan niệm của ông về cách mạng: thay vì chủ xướng một cuộc cách mạng chánh trị, ông đổi sang quan niệm chủ xướng một cuộc cách mạng văn trị. Vì thế Khổng Tử lui về dạy học, từ chối những lời mời xuất si hậu tình của vua quan nước Lỗ, nên đã để lại một sự nghiệp rực rỡ hàng ngàn năm sau.

        Dẫn chiếu trên cho ta thấy, tuy nguyên nghia của cách mạng là thay đổi… là… diễn hóa, song tùy không gian và thời gian, tùy nhu yếu thời đại, tùy hoàn cảnh xã hội mà xuất phát ra những chủ trương cách mạng khác nhau. Như Tôn Trung Sơn (1866-1925), một nhà cách mạng Trung Hoa, người lập ra Tam Dân Chủ Nghia và Ngu Quyền Hiến Pháp, đã thực hiện môt cuộc cách mạng vô cùng cam go với chủ trương “Tuần tự nhi tiến” (cứ lần lần mà tiến). Tức như gỡ sợi chỉ rối: gỡ hết mối nọ, rồi đến mối kia.

        Tình trạng Trung Quốc lúc bấy giờ rối như mớ bòng bong! Trong thì triều đình Mãn Thanh thối nát, giặc nổi lên tứ tung, ngoài thì các nước Tây Phương luôn luôn tìm cớ đặt chân lên dầy xéo đất nước. Muốn tiêu diệt cả nội địch lẫn ngoại địch trong khi thực lực còn yếu, ông phải mượn sức nọ chống với sức kia, trước khi đủ sức loại bỏ tất cả. Do đó, ông chủ trương cách mạng “Tuần tự nhi tiến“.

        Còn các nhà cách mạng Việt Nam nổi danh như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Cường Để, Nguyễn Thái Học… thì làm cách mạng với chủ trương “chống Pháp giành độc lập”.

Chủ Thuyết “Cách Mạng Tâm Thân”
Của Môn Phái Vovinam – Việt Võ Đạo

        Chúng ta đã thấy:

        Cách mạng chánh trị là thay đổi nếp sinh hoạt chánh trị cu bằng một nếp sinh hoạt chánh trị mới. Ví như chuyển một chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ quân chủ lập hiến hoặc dân chủ là cách mạng chánh trị.

        Cách mạng xã hội là thay đổi đời sống xã hội, từ đời sống ăn lông ở lỗ, biết tạo dựng nhà cửa khang trang, nấu nướng tinh tế, định đặt lại thứ bậc xã hội, trước mê tín dị đoan, sau mở rộng nhãn tuyến phân tích chân giả, thực hư, tiến vào đuờng khoa học là cách mạng xã hội.

        Còn “Cách Mạng Tâm Thân” là chủ thuyết riêng biệt độc đáo của môn phái Vovinam do Cố Võ Sư Sáng Tổ Nguyễn Lộcđề xướng có nghia là con người phải luôn luôn tiến hóa để theo kịp thời đại, tiến hóa về cả hai phần: tâm hồn và thân xác.

        Khác với mọi cuộc cách mạng khác – phần nhiều chỉ lo tới việc cải tiến xã hội, chế độ – Cách Mạng Tâm Thân của môn phái chúng ta hoàn toàn chú trọng tới việc thay đổi nếp sống, thay đổi những tập tục lỗi thời để cải tiến con người toàn diện.

        Với quan niệm những cá nhân tạo thành tập thể xã hội, nhiều cá nhân tốt sẽ khiến cả xã hội tốt đẹp, nên Cố Võ Sư Sáng Tổ đã đề xướng ra chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân. Những con người tốt, lành mạnh cả thể xác lẫn tinh thần đuợc ví như những điểm sáng trong đêm tối, càng nhiều điểm sáng thì bóng tối thì tự nó sẽ tiêu tan.

        Con người mà tâm hồn đã u mê, bạc nhược, không ý thức đuợc nhiệm vụ làm người và làm dân của mình, thân thể còm lõi, yếu đuối thì sao có đuợc một tinh thần sáng suốt, một ý lực quả cảm, đảm nhiệm bất cứ công việc nhỏ mọn tầm thường nào chớ đừng nói tới làm cách mạng chánh trị hoặc xã hội nữa.

        Do đó, chúng ta thấy rằng: bất cứ một cuộc cách mạng chánh trị hoặc xã hội nào muốn thành công và bảo vệ đuợc thành quả đều phải kinh qua một cuộc cách mạng tâm thân, nghia là trước hết, phải cải tiến ngay chính bản thân con người làm cách mạng.

        Để chứng minh điều đó, chúng ta có thể suy gẫm cuộc cách mạng đẫm máu của nước Pháp vào năm 1789. Bởi chế độ quân chủ chuyên chế độc tài, cực độ thối nát của các triều vua Louis XIV, XV, XVI toàn dân đã hưởng ứng cuộc cách mạng do Robespierre cầm đầu lật đổ chế độ bảo hoàng. Cuộc cách mạng đã thành công dễ dàng, song vì không có cách mạng tâm thân làm chủ chốt, nhóm người làm cách mạng thiếu kiện toàn về tài đức, nghi kỵ và thanh toán lẫn nhau, nên sau đó lại rơi vào tay nhà độc tài quân phiệt Bonapart. Tất cả đều lên đoạn đầu đài, bôi một trang sử đẫm máu cho dân tộc Pháp.

        Khác với Việt Nam thời nhà Trần, dưới sự lãnh đạo của đức Trần Hưng Đạo, cách mạng tâm thân đã đuợc thực hiện với cao độ. Từ cung nữ, phi tần cho tới công nương, quận chúa đều sát cánh cùng toàn dân tham gia việc đồng áng, thương nghiệp và rèn luyện võ thuật, cưỡi ngựa bắn cung. Do đó, dầu chỉ là một tiểu nhược quốc, đã 3 lần dân tộc ta oanh liệt đại thắng quân Nguyên xâm lược.

        Ngoài cái chiến thắng nơi trận địa, đức Trần Hưng Đạo còn chiến thắng về tâm đức. Ngài không để cho ngai vàng quyến ru, cương quyết dứt bỏ tư tưởng vị kỷ của cha (Trần Liễu), biết đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, hết lòng phụng sự tổ quốc.

        Nếu thời đó, đức Trần Hưng Đạo không biết gạt thù nhà sang một bên, nghe lời trối trăn của cha cướp ngôi cho giòng họ Ngài, thì liệu sau đó, dân tộc ta có muôn người như một, đồng tâm nhất trí chống xâm lăng, để giang sơn thoát khỏi ách đô hộ của nhà Nguyên?

        Xem như thế, chúng ta có thể nói rằng: bất cứ thời nào, hoàn cảnh nào, người lãnh đạo quốc gia biết tự mình thực hiện và hướng dẫn toàn dân thực hiện cách mạng tâm thân thì chánh trị và xã hội sẽ đuong nhiên xuất tiến.

        Thời phong kiến (phong tước, kiến địa: chế độ nhà vua phong tước cho chư hầu, cắt đất cho chư hầu quản lành) đã có những vị vua anh minh như vua Nghiêu, vua Thuấn luôn luôn thực hiện cách mạng tâm thân nên xã hội thời đó rất thái bình, thịnh trị. Vua Nghiêu, vua Thuấn còn dầy công tìm kiếm, mời những bậcn hiền tài về nhường ngôi mà không ai chịu nhận.

        Nhưng đặt ngược lại, nếu vua Nghiêu, vua Thuấn không tiến hành cách mạng tâm thân, không chăm lo tự kiện toàn tài năng đức độ và chí hướng, không giúp dân nâng cao mức sống và trình độ hiểu biết, chỉ lo xây dựng lâu dài, tuyển dụng cung phi, cầu vinh thụ hưởng thì không mời người nhường ngôi, thiên hạ cung vùng lên làm cách mạng lật đổ chế độ bạo tàn thối nát.

        Do đó, chúng ta thấy rằng một khi đã thực hiện cách mạng tâm thân thì không bao giờ còn có cách mạng chánh trị và xã hội nữa.

        Hơn nữa, nói tới cách mạng chánh trị và xã hội là thấy hiển hiện ra trước mắt cảnh máu chảy, xương rơi, cảnh chết chóc, phá hoại, trước khi tiến tới sự sống, sự nuôi dưỡng và xây dựng. Nhưng cách mạng tâm thân hoàn toàn chỉ nghi tới sự sống, sự nuôi dưỡng và xây dựng toàn diện cho con người.

        Muốn thực hiện Cách Mạng Tâm Thân, Việt Võ Đạo Sinh phải nhắm rèn luyện hai phần vụ chính:

  1. Về Tâm: Phải có một quan niệm sống vững vàng, một ý thức cách mạng đứng đắn, một lòng yêu nước dân tộc vô bờ bến, một tinh thần quật cường, một nghị lực quả cảm, một ý lực vượt tiến.
  2. Về Thân: Phải có một thân thể đanh thép vững chắc, sức lực mạnh mẽ dẻo dai, có đầy đủ khả năng và kỷ thuật tự hoặc tấn công, khi cần đến.

        Tóm lại, cuộc cách mạng chánh trị và xã hội chỉ là phương tiện phụ tùy, bộc phát bởi những yêu cầu của lịch sử trong một giai đoạn nào đó rồi thôi, còn Cách Mạng Tâm Thân là động lực căn bản, chủ chốt cho mọi cuộc cách mạng và phải đuợc thi hành liên tục không ngừng.

        Việt Võ Đạo Sinh phải luôn tu dưỡng tâm hồn, rèn luyện thể xác, nghia là phải trao giồi cho có một tinh thần cầu tiến, một đức tính kiên trì và một thân thể lành mạnh, hùng tráng, để đuờng hoàng đặt chân vào ngưỡng cửa của sự sống. Việt Võ Đạo Sinh phải luôn luôn cách mạng tâm thân để con người của chúng ta hôm nay khác với con người hôm qua. Tất cả tâm thức thực nghiệm đó chứng tỏ sự tiến hóa của con người và tạo thành nền văn minh cho nhân loại.

Nguyên Tố Hình Thành Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân

       Chúng ta đã khẳng định rằng tâm hồn và thân chất của con người có nhiều nhược tính. Chúng ta đã xác định những nhược tính trong tâm hồn và thân chất của người Việt. Chúng ta đã nhận định rằng, bên cạnh những ưu tính, xã hội Việt, quốc gia Việt và dân tộc Việt, có nhiều nhược tính – nhất là trong thời Pháp thuộc. Đồng thời, chúng ta cung thừa nhận rằng cần phải chuyển hóa các nhược tính đó thành ưu tính.

        Đó là ý niệm tiên khởi của chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân. Ý niệm tiên khởi này tạo cho chúng ta 5 nguyên tố hình thành chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân:

    1. Ý thức tự tồn
    2. Đạo Nhân
    3. Đức Dung
    4. Tinh thần khai phóng
    5. Ý thức cải tạo xã hội

1. Ý Thức Tự Tồn

        Muôn loài đều có bản năng tự tồn, nhưng chỉ có con người ưu việt, mới có đủ khả năng nhận thức nhu cầu tự tồn đó. Khả năng nhận thức nhu cầu tự tồn đó chính là ý thức tự tồn trong đời sống chúng ta.

        Đứa trẻ khi bắt đầu nhận thức, đã biết đòi hỏi để lấy đuợc những gì nó muốn. Con người khi bước vào xã hội, cung tìm đủ cách lấy đuợc những gì cần thiết cho sự sống của mình. Một nhóm người, một đoàn thể, biết kết hợp tranh đấu là có ý thức tự tồn. Một dân tộc cung vậy, muốn phồn thịnh và hùng mạnh, phải có ý thức tự tồn trước đã.

        Thời Pháp thuộc, người Pháp không muốn người Việt có ý thức tụ tồn, vì ý thức tự tồn đuợc phát huy, sẽ loại trừ mọi ảnh hưởng của Pháp ra khỏi xã hội Việt. Trong thâm tâm, người Pháp chỉ muốn dân chúng thuộc địa tồn tại với bản năng tự tồn của loài vật, chứ không muốn người Việt có ý thức tự tồn của một con người. Cần gì, đã có mẫu quốc “bảo hộ”, cung như đứa trẻ nhỏ đã có mẹ che chở. Rượu ty, thuốc phiện, khuynh hướng dục lạc của chủ thuyết lãng mạn… là những liều thuốc ngủ dành riêng cho ý thức tự tồn.

        Vậy người Việt, muốn gỡ ra khỏi thế kẹt đó, phải phát huy ý thức tự tồn trên mọi lãnh vực: đó là đáp số của bài toán “dân tộc Việt” trong thời Pháp thuộc. Tuy nhiên, cung đã có nhiều người giải sai: có người coi ý thức tự tồn như một vật gia bảo bỏ quên ở Nhật, nên sang Nhật tìm (Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, nhóm Đông Kinh Nghia Thục), có người coi như một món hàng bị quan thuế tịch thu ở Pháp, nên sang Pháp chuộc (Phan Chu Trinh, và nhiều nhân si hải ngoại)…

        Thật ra, ý thức tự tồn ở trong lòng dân tộc Việt, chứng cớ là những cuộc khởi nghia chống Pháp nổi tiếng đều phát nguyên ngay từ ý thức tự tồn của người Việt tại bản quốc: Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, nhóm khởi nghia Yên Bái 1930, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Trương Công Định…

        Do đó nguyên tố đầu tiên của chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân là phát huy đuợc ý thức tự tồn cho con người, cho người Việt. Ý thức tự tồn sẽ phát huy khả năng tranh đấu và khả năng tự vệ của con người, trước mọi khó khăn, trở ngại của ngoại cảnh đem tới. Ý thức tự tồn sẽ phát huy khả năng tranh đấu và tự vệ của người Việt trong mọi bối cảnh lịch sử, để người Việt trưởng triển cả về tâm hồn lẫn thân chất trong mọi sứ mạng cứu nước, giữ nước và dựng nước.

2. Đạo Nhân

        Đạo nhân ở đây không phải là một tôn giáo, mà là đuờng lối phương cách đối xử. Nhân, là tình người (chữ gồm có chữ nhân là người và chữ nhị là hai), tức là lối đối xử tốt đẹp giữa người với người.

        Đạo nhân từ Khổng học, đã hội nhập vào nếp sống Việt trở thành một căn bản luân lý truyền thống.

        Nguyên tố thứ hai của chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân chú trọng tới đạo nhân, vì đạo nhân chính là căn bản xử kỷ tiếp vật trong đời sống cộng đồng, để tạo sự điều hòa và thế quân bình trong cuộc sống chung.

        Đạo nhân cho chúng ta trái tim từ ái, trong mọi trường hợp đối xử với bạn, với thù, khiến tâm hồn chúng ta luôn luôn khoáng đạt trong mọi sứ vụ nhiệm thế.

3. Đức Dung

        Đức dung cho ta sự can đảm, sự dung cảm.

        Nhưng có nhiều loại can đảm khác nhau. Có sự can đảm của kẻ thất phu, chỉ biết liều linh thí mạng với bất cứ ai khi tự ái bị xúc phạm hay nguyện vọng không đuợc thỏa mãn. Có sự can đảm của người dung si, biết xả thân vì lý tưởng hoặc mục tiêu phục vụ. Đó là đặc điểm mà Khổng Tử gọi là “chí si nhân nhân vô cầu sinh di hại nhân, hữu sát thân di thành nhân” (bậc chí si nhân giả, không cầu sống để làm hại người, mà chỉ giết thân mình để thành bậc nhân).

        Câu chuyện so sánh giữa 3 chàng dung si Tiêu Khâu Tố, Yêu Ly, và Khánh Kỵ thời Chiến Quốc cho ta thấy cả ba cùng có đức dung: Tiêu Khâu Tố vì ngựa mà nhảy xuống sông giao đấu với thủy thần; Yêu Ly vì chúa mà hủy hoại cả thân mình, sát hại vợ con; Khánh Kỵ bị mưu sát mà vẫn tha thứ cho kẻ thù. Nhưng cái dũng của Tiêu Khâu Tố chỉ là cái dung của kẻ thất phu hiếu động, cái dung của Yêu Ly chỉ là cái dung của kẻ cuồng tín hiếu danh, cái dung của Khánh Kỵ chỉ là cái dung của người bất trí, quân tử hão. Cả ba đều không có lý tưởng tuy có mục tiêu phục vụ nhất thời.

        Đức Dung, lý tưởng của chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân chính là cái dung bắt đầu bằng sự tự chế phục những nhược điểm, khuyết điểm trong tâm hồn mình, rồi kiên quyết thực hiện bằng đuợc lý tưởng mà mình theo đuổi, thực hiện. Biểu trưng cho Đức Dung này là “bàn tay thép”, nhưng là “bàn tay thép đặt trên trái tim từ ái”: Đức Dung luôn luôn phối hợp với Đạo Nhân tạo thành hai biểu trưng điều hòa sự phát triển của tâm hồn và thân chất.

4. Tinh Thần Khai Phóng

        Cùng với ý thức tự tồn, đạo nhân, và đức dung chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân còn hội tụ một nguyên tố thứ tư: Tinh thần khai phóng.

        Tâm hồn và thân chất phát triển, cung có nghia là những trì trệ trong tinh thần phải tự diệt, dành chỗ cho những quan niệm sống mới mang tính chất bao dung, khoáng đạt. Những quan niệm sống bao dung, khoáng đạt này bắt nguồn từ tinh thần khai phóng.

        Thời Tự Đức, triều đình bảo thủ của ông vì không chấp nhận tinh thần khai phóng của Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ … đã xô đẩy đất nước xuống vực thẳm vong quốc. Ngày nay, chúng ta quan niệm khác hẳn: phải thay đổi tinh thần tự túc (tự cho là đủ), tự mãn (tự cho là đáng hài lòng rồi) bằng tinh thần khai phóng, song song với sự tăng triển của thân chất và võ thuật.

        Tinh thần khai phóng chính là động cơ của tiến bộ, khiến chúng ta vượt thoát đuợc những tự túc nhất thời, để đạt tới những tăng triển liên tục và miên sinh trong đời sống.

5. Ý Thức Cải Tạo Xã Hội

        Nguyên tố cuối cùng của chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân chính là ý thức cải tạo xã hội.

        Ngay từ khi hội nhập vào “Cách Mạng Tâm Thân”, trong tiềm thức chúng ta đã sẵn có một ý hướng phục vụ: cải tạo xã hội. Vì không thể nào chỉ “cách mạng” cho chính mình và gia đình, mà quên lãng những nghia vụ với cộng đồng xã hội.

        Ý thức cải tạo xã hội bắt nguồn từ sự không mãn nguyện với hoàn cảnh mình đang sống. Ý thức cải tạo xã hội bắt rễ trong tâm nguyện của Cố Võ Sư Sáng Tổ, bắt nguồn từ một xã hội ủng trệ thời Pháp thuộc. Ý thức cải tạo xã hội đuong thời của chúng ta hội nhập vào chương trình cách mạng xã hội chung: thanh toán những bất công xã hội, thực hiện tối đa công bằng xã hội.

        Nguyên tố này chính là động cơ tiến bộ của mỗi chúng ta, khi ý thức những nghia vụ của mình trong cộng đồng xã hội với quốc gia, dân tộc, và nhân loại.

        Năm nguyên tố hình thành chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân chính là 5 động cơ giúp chúng ta làm lại con người, làm lại xã hội.

        Chúng ta đi từ con người đến xã hội. Con người là một thực tại cụ thể. Xã hội là một thực tại trừu tượng. Con người sống trong xã hội, có những nghia vụ từ mình tới người, từ chủ thể đến khách thể, từ cụ thể đến trừu tượng. Chúng ta phải thay đổi con người, không có nghia chúng ta bỏ qua nghia vụ đối với xã hội.

        Sự hình thành của chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân do 5 nguyên tố: bắt đằu từ ý thức tự tồn, kế đó là đạo nhân, đức dung, rồi vận dụng tinh thần khai phóng và động lực ý thức cải tạo xã hội mà hoàn thành.

        Năm nguyên tố này vẫn bàng bạc trong sự sống của mỗi chúng ta. Cố Võ Sư Sáng Tổ đã kết hợp lại, vận dụng trong một bối cảnh lịch sử vong quốc, và đã thành tựu. Chúng ta kế tục, vận dụng trong một xã hội độc lập và dân chủ pháp trị, tất cả phải hoàn bị, tinh tiến hơn.

        Đó là nguyện vọng mở đầu chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân của Cố Võ Sư Sáng Tổ với niềm kỳ vọng làm lại người Việt và nước Việt mến yêu hùng cường và thịnh vượng.

Thực Chất Và Tiêu Hướng Của Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân

 

I. Khái Niệm Về Sự Lượng Giá Phương Tiện Và Cứu Cánh

        Không có chủ thuyết nào tránh khỏi những chuyển hóa, biến hóa và phân hóa. Ví dụ: Khổng Học bắt ngồn từ Dịch Học rồi phân hóa thành các hệ phái Tuân Tử, Mạnh Tử, Trình Chu (Trình Hạo, Trình Dy, Chu Hy), Vương Dương Minh, Nghiêm Phục…; Phật thuyết bắt nguồn từ Bà-La-Môn (Brahmatisme) rồi phân hóa thành các hệ phái Đại Thừa (Bắc Tông) Tiểu Thừa (Nam Tông)…; Giáo Thuyết Gia Tô bắt nguồn từ Cựu Ước rồi phân hóa thành các giáo phái Cơ Đốc (Roman Catholics), Chính Thống (Othodox), Tin Lành (Protestanism)…; Chủ Thuyết Mác Xít bắt nguồn từ biện chứng pháp Hegel, chủ thuyết hóa (Evolutionism) của Darwin và các chủ thuyết xã hội của Owen, Proudhon, rồi phân hóa với các chủ thuyết Lê-nin (Leninism), Staline (Stalinism), Mao Trạch Đông (Maoism) và Chủ Nghia Xét Lại (Revisionnism) của Kruschev, Kossygin…

        Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân của môn phái Vovinam cung ở trường hợp tương tự: kết tinh từ học thuyết Chu Văn An (cùng lý, chính tâm, trừ tà, cự bế), chủ trương văn võ kiêm toàn (bằng Cách Mạng Tâm Thân) thời Trần, Dịch học và thuyết tri hành hợp nhất của Vương Dương Minh.

        Như vậy liệu trong tưong lai, chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân của môn phái Vovinam Việt Võ Đạo có phân hóa không? Và nếu có phân hóa, sẽ phân hóa theo chiều hướng tiến bộ hay thoái bộ? Đó là những vấn đề chúng ta sẽ phân tích ở những phần kế tiếp.

        Trước khi vào phần phân tích, chúng ta bắt đầu bằng sự nhận định những khái niệm về sự lượng giá phương tiện và cứu cánh, cùng những quan niệm đối nghịch về Cách Mạng Tâm Thân. Mối liên hệ giữa phương tiện và cứu cánh hiểu theo nghia thông thường là: phương tiện là tất cả mọi phương cách tiện dụng từ tổ chức, nhân lực, vật lực, tài lực, đuợc xử dụng để đạt tới mục đích tối hậu, tức cứu cánh.

        Do đó, giữa phương tiện và cứu cánh có sự lượng giá không bình đẳng: cứu cánh bao giờ cung cao vượt hơn phương tiện, và người ta chỉ có thể dùng phương tiện hoặc hy sinh phương tiện để phục vụ cho cứu cánh, chứ không bao giờ xử dụng cứu cánh, hoặc hy sinh cứu cánh để phục vụ cho phương tiện.

        Do đó, nẩy ra quan niệm “cứu cánh trên hết”, cứu cánh biện minh cho phương tiện, thành cứu cách thuyết (finalism). Ví dụ: Cứu cánh của Cộng Sản Nga là thực hiện xã hội chủ nghia trước khi tiến tới cộng sản chủ nghia, nên mọi phương tiện đối với người cộng sản đều tốt, miễn là đạt tới cứu cánh. Đặc biệt đối với người cộng sản, mọi phương tiện đựợc xử dụng đều có thể sẵn sàng đuợc “hy sinh” để đạt tới cứu cánh: khủng bố, thanh trừ, thủ tiêu, đàn áp tập thể… Hitler cung ở trường hợp tương tự: Cứu cánh của Hitler là phục hưng nước Đức, xây dựng một dân tộc Đức hùng mạnh với giòng Aryan chính thống. Và quyết định: xử dụng mọi phương tiện để đạt tới cứu cánh, từ những thủ đoạn vu cáo đối lập, đốt Quốc Hội để lấy cớ đàn áp, tới phát động chiến tranh để xiển dương uy thế, thủ tiêu 7 triệu người Do Thái để cướp đoạt tài sản và thực quyền kinh tế… Mustapha Kémal cung ở trường hợp tương tự, nhưng “cứu cánh” của ông khiêm nhượng hơn, nhằm vào phục hưng dân tộc Thổ hơn là “xưng hùng” với thế giới: từ việc truy nguyên dân tộc tính, lập quốc ngữ Thổ, loại trừ ảnh hưởng Hồi Giáo độc tôn, thanh trừng nội bộ, thanh toán đối lập, quyết chiến và quyết thắng liên quân Anh – Pháp – Đức, phát triển nông nghiệp… đều là những phương tiện đuợc xữ dụng để đạt tới cứu cánh trên.

        Trong ba trường hợp điển hình trên, chúng ta có thể tạm kết luận ở trong trường hợp 1 và có thể kết luận rõ rệt ở 2 trường hợp sau. Trường hợp Nga Sô cho ta thấy rõ: mặc dầu xử dụng nhiều phương tiện và “hy sinh” luôn những phương tiện, như những vụ đàn áp khổng lồ, lưu đày và thủ tiêu hàng triệu người tại Tây Bá Lợi Á, Trên 50 năm quốc hữu hóa ruộng đất và bất động sản để thành lập các nông trường tập thể và công trường tập thể, Nga Sô đã tạm thời từ bỏ hệ thống kinh tế chỉ huy để trở về chế độ kinh tế định hướng, tức tôn trọng quyền tư hữu, chia lại ruộng đất, giải tán các “công trường” và “nông trường” của chế độ hợp tác xã sản xuất đảng trị. Hitler như chúng ta đã rõ về số phận nước Đức sau thế chiến: Đức Quốc thảm bại, đảng Quốc Xã bị tiêu diệt, lãnh tụ thì lớp tự tử (Vợ chồng Hitler – Eva Braun và bộ tham mưu), lớp bị xử giảo do tòa án Nuremberg. Đó là bài học thấm thía nhất của nhân loại về sự xử dụng phương tiện và cứu cánh: cả 2 cùng bị hủy diệt vì guồng máy lãnh đạo cuồng tín và sai lầm. Trường hợp Mustapha Kémal có khác hơn: mặc dầu cung xử dụng nhiều phương tiện để đạt tới cứu cánh, nhưng những mục tiêu của ông đã thành công cho tới lúc ông nhắm mắt, vì ông biết giới hạn sự xử dụng phương tiện của mình không để tham vọng chánh trị lôi cuốn.

        Như vậy, sự lượng giá phương tiện và cứu cánh là một vấn đề vừa tế nhị và phức tạp. Phức tạp và tế nhị không phải là vì có quá nhiều tiêu chuẩn định hướng, nhưng chính là có quá nhiều tiêu chuẩn định hướng, chính là có quá nhiều tiêu chuẩn định hướng khác nhau (nhiều khuynh hướng ái quốc đối lập và đối nghịch), và những tiêu chuẩn này không có tính chất bất biến (Hitler trước tháng 5-1945 là lãnh tụ yêu nước số 1, sau đó là tên độc tài khác máu; Pétal trước tháng 5-1945 là cứu tinh dân tộc, sau đó là Pháp gian; Ngô Đình Diệm trước 1954 là một chí si ái quốc, sau tháng 7-1954 là một lãnh tụ anh minh, sau chính biến 1-11-1963 là độc tài gia đình trị, và qua năm 1971 lại đuợc phục hồi là nhà ái quốc số 1…) Vì khó có thể chuẩn định, nên sự lượng giá thường có tính cách tình cảm công việc và xúc động chính trị tùy theo quan niệm cá nhân nhất thời.

II. Các Quan Niệm Đối Nghịch Về Cách Mạng Tâm Thân

        Cung như mọi cá nhân và mọi toàn thể khác, khi hoạt động xã hội là dù muốn hay không, cung phải chịu ít nhiều ảnh hưởng của xã hội, môn phái Vovinam Việt Võ Đạo mậc dầu khẳng định là không làm chính trị, nhưng cũng không nhất thiết từ chối tham dự những hoạt động yêu nước, và đồng thời cung không ngăn cấm môn sinh hoạt đông chính trị với tư cách công dân hợp hiến và hợp pháp của họ. Như vậy, là có tham gia hoạt động chánh trị hay không tham gia hoạt đông chánh trị? Tham gia trực tiếp hay gián tiếp? Có phù hợp với chủ trương Cách Mạng Tâm Thân của môn phái hay không? Và cuối cùng: tại sao cần Cách Mạng Tâm Thân và Cách Mạng Tâm Thân để làm gì? Có liên quan ra sao với những chủ trương cách mạng chánh trị, xã hội, văn hóa, kinh tế…?

        Hiện nay, các quan niệm đối nghịch về Cách Mạng Tâm Thân tuy chưa hình thành rõ rệt, (ngoại trừ khuynh hướng đức lý) nhưng cũng đã qui kết thành 3 khuynh hướng nhận định khác nhau, có triển vọng hình thành các quan niệm đối nghịch.

Quan Niệm 1 : Khuynh Hướng Đức Lý

        Quan niệm hình thành đầu tiên chính là quan niệm võ đạo truyền thống Đông Phuong: coi võ đạo (tinh thần võ si đạo) là một hệ thống luận lý về đạo đức tu dưỡng Tâm và Thân, nên hoàn toàn có tính cách đức lý như các hệ thống đức lý khác: tinh thần Khổng Học (quân tử, đại trượng phu), tinh thần Lão – Trang (đạo nhân, chí nhân), tinh thần Nhật Võ Đạo (Bushido – Samourai), tinh thần chính nhân (Honnête – homme), tinh thần quí nhân (Gentlemen – Gentille – homme), tinh thần hiệp mã thượng (Chevalerie), tinh thần thực dụng (Pragmatism).

        Khuynh hướng này lập luận việc xây dựng con người Việt Võ Đạo cung tương tự như việc xây dựng con người Nhật Võ Đạo, quân tử, đại trượng phu, chính nhân, đạo nhân, chí nhân, quý nhân, hiệp mã thượng hay thực dụng… với cả 2 phần vụ tu dưỡng là tâm và thân, để tạo thành một mẫu người lý tưởng này có hoạt động chính trị hay không, hoặc có tham gia những hoạt động chính trị , xã hội, văn hóa, kinh tế… hay không lại là việc khác, vì còn tùy thuộc rất nhiều ở những điều kiện thực tại về xã hội và tâm lý thời đại (của từng thời đại khác nhau). Do đó chính nhu cầu xây dựng mẫu người lý tưởng Việt Võ Đạo mới là cứu cánh còn các bộ môn khác, kể cả chính trị, đều chỉ là phương tiện để đạt đến cứu cánh.

Quan Niệm 2: Khuynh Hướng Tranh Đấu Chánh Trị

        Khuynh hướng này đuợc bắt nguồn từ tinh thần quốc gia cực đoan và những khát vọng tiến bộ (dân chủ, tự do, bình đẳng pháp trị…) của nhân loại mang lại.

        Tinh thần quốc gia cực đoan đuợc phát triển mạnh từ những hiểm họa vong quốc; kế đó trong thời Pháp thuộc; và gần đây, khát vọng dân tộc tự quyết, công bằng xã hội và tự do dân chủ. Đặc biệt hơn cả là nhờ vị trí giao điểm, hành lang và tiền đồn của hai thế giới Tự Do và Cộng Sản tại Đông Nam Á, Việt Nam luôn luôn tiếp nhận các tư trào và ảnh hưởng chánh trị từ bốn phương đổ đến. Do đó, chánh trị len lỏi vào mọi bộ môn hoạt động xã hội, tác động chi phối, rồi lãnh đạo. Nhất là tại miền Bắc, khuynh hướng “chánh trị lãnh đạo tất cả”, đã đại thắng, qua cuộc bút chiến của Trường Chinh (tuần báo Sự Thật) và nhóm Hoàng Minh Giám (đảng Xã Hội Bắc Việt, nguyệt san Độc Lập), với kết luận: pháp luật và bất cứ bộ môn nào khác đều phải đặt dưới quyền lãnh đạo của chánh trị , là phương tiện tranh đấu phục vụ chính trị, tức “đảng” (do đảng lãnh đạo). Do đó, văn hóa là chính trị, luật pháp là chính trị, quân sự cung là chính trị. Đó là tình trạng “chánh trị lãnh đạo tất cả” tại miền Bắc hiện nay:

        Ngang lưng thì thắt “Phương Châm”
Đầu đội chính sách tay cầm “Chủ Trương
Chân đi đội dép “Lập Trường”…

        Tại miền Nam, vấn đề phân quyền đuợc hiến pháp quy định (hành pháp, lập pháp, tư pháp, giám sát…); nhưng trên thực tế, sự phân quyền chỉ có tính cách tương đối, vì hành pháp với thực quyền lãnh đạo chánh trị trong tay, đã có nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ chi phối những quyền khác.

        Môn phái Vovinam Việt Võ Đạo cung bị ảnh hưởng ít nhiều sự xâm nhập của chánh trị trong các bộ môn sinh hoạt xã hội. Do đó, ý niệm tranh đấu chánh trị mặc dầu chưa hình thành thành một quan niệm, cung đã trở thành một khuynh hướng trong sinh hoạt môn phái.

        Khác với khuynh hướng đức lý cho rằng việc xây dựng mẫu người lý tưởng Việt Võ Đạo mới có giá trị trường cửu, là cứu cánh, trong đó tấc cả các bộ môn khác chỉ là phương tiện, khuynh hướng tranh đấu chánh trị luận lý rằng: Cách Mạng Tâm Thân tự nó chỉ có giá trị xây dựng, đào tạo, chớ không có giá trị phục vụ, tranh đấu. Do đó, nó phải có một lý tưởng, một mục đích để đạt tới. Chính lý tưởng tranh đấu phục vụ dân tộc, phục vụ xã hội, mới là mục đích của Cách Mạng Tâm Thân. Không có lý tưởng tranh đấu, mẫu người lý tưởng Việt Võ Đạo sẽ là mẫu người tinh, mẫu người thụ động, mẫu người chết, bởi lẽ chỉ chăm lo tự làm tốt đẹp cho mình rồi ngưng lại, tách rời khỏi sinh hoạt tranh đấu xã hội, tranh đấu dân tộc, thì làm sao đất nước, có thể hưng thịnh, dân tộc có thể hùng cường đuợc, nếu nguồn nhân lực Việt Võ Đạo có nhiều khả năng bồi đắp?

        Do đó, nguời Việt Võ Đạo bắt buộc phải dấn thân, hội nhập vào sinh hoạt tranh đấu xã hội, ứng dụng ngay thành quả của Cách Mạng Tâm Thân vào những công cuộc giúp ích và hiến ích với tư thế tranh đấu chánh trị để cách mạng xã hội. Cách Mạng Tâm Thân do đó, chỉ là một phương tiện tranh đấu chánh trị để cách mạng xã hội; vì cứu cánh của tranh đấu chánh trị, và cách mạng xã hội chính là cứu cánh của dân tộc, trong đó bao gồm cả môn phái Vovinam Việt Võ Đạo, phần tử của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Quan Niệm 3: Khuynh Hướng Chuyên Môn Hóa Võ Học

        Khác với hai quan niệm trên (quan niệm đức lý và khuynh hướng tranh đấu chánh trị), khuynh hướng thứ ba đon giản và thuần túy hơn cả, là đua võ học trở lại chuyên môn: đào tạo, chuyên luyện thế hệ thanh thiếu niên sắp tới khang kiện cả về tâm thức và thân chất, còn kỳ dư, không lý tới những ảnh hưởng của đức lý và tranh đấu chánh trị, vì đó hoàn toàn tùy thuộc vào trình độ và quyền công dân hiến định, pháp định của mỗi cá nhân.

        Theo khuynh hướng này, quan niệm đức lý có vẻ lý tưởng quá, cao viễn quá, không thích hợp với thực tại xã hội Việt Nam. Đồng thời, khuynh hướng tranh đấu chánh trị với tính cách “anh hùng nóng ruột” và “anh hùng nổi giận” nên chỉ thích hợp với những tập thể chánh trị và quân sự, không thích hợp với võ học. Vẫn theo quan niệm này, công việc tranh đấu chánh trị từ xưa nay đã nhiều người nhiều đoàn thể dương danh những từ ngữ to lớn, tốt đẹp, rồi cuối cùng chỉ là phân hóa, chia rẽ, nhung lạm, làm đất nước nát bấy. Bằng chứng rõ rệt nhất là, từ các chánh đảng, hội đoàn tới cả tôn giáo, khi đã để khuynh hướng chánh trị lọt vào nội bộ là thế nào cung xẩy ra tình trạng phân hóa, chia rẽ và thậm chí tương tàn. Bằng một bằng chứng khác, điển hình ngay trước mắt, là dân tộc ta hiện nay không thiếu những khuynh hướng tranh đấu chánh trị, nhưng thiếu hẳn một chánh sách giáo dục tiến bộ, thích hợp và thực tế, để thỏa mãn nhu cầu đào tạo nhân tài cho đất nước. Do đó, vấn đề chính không phải là chính trị hóa chuyên môn mà là phân lập chuyên môn tách rời tất cả ảnh hưởng chánh trị, mới có thể bảo đảm việc đào tạo nhân tài mới cho đất nước, thoát khỏi mọi sự nhiễm độc của thực trạng đất nước. Ví dụ: dân tộc Nhật sau đệ nhị thế chiến, nhờ chánh sách cưỡng bách giáo dục hết bậc trung học (tú tài toàn phần) và hội phập tinh thần Nhật Võ Đạo (Bushido) vào chương trình giáo dục ngay từ bậc tiểu học, nước Nhật mới có đủ nhân tài lãnh đạo mọi nghành , mọi nghề, phục hưng tốt đẹp như ngày nay.

        Do đó, võ học cần phải trở lại lãnh vực chuyên môn của mình: đào tạo nhân tài mới, với tâm thức và thân chất cách mạng, để thích ứng ngay với nhu cầu hiện đại của đất nước.

III. Thực Chất Và Tiêu Hướng Của Cách Mạng Tâm Thân

        Như vậy, thực chất của Cách Mạng Tâm Thân ra saỏ Và Cách Mạng Tâm Thân phải có những tiêu hướng nào để đạt tới hầu đáp ứng trung thực với đuờng lối của môn phái và nhu cầu đích thực của dân tộc?

A. Thực Chất Của Cách Mạng Tâm Thân

        Tất cả mọi hệ thống triết học, chánh trị, ngành học đều bắt nguồn từ xuất xứ chung: do người và vì người. Tuy nhiên, vào thực chất có nghành học đi quá xa, nên đã phản lại xuất xứ: thay vì do người và vì người, lại xa người và diệt người. Ví dụ: hóa học, quang học, nguyên tử học…

        Rút lại, chỉ còn một số nghành học nhân bản là trung thành với xuất xứ trên, tạo thành một hệ thống khoa học nhân văn hay khoa học nhân bản.

        Thực chất của triết học do đó, là “chánh trị của chánh trị”, vì đã cởi đuợc mối dây rối rắm của chánh trị, bắt đầu bằng sự hướng dẫn ý thức và trí thức của con người, trước khi trả lại con người ý hướng hành động của nó. Cùng với triết học, ta còn thấy kinh tế là “nền” của chánh trị, và đồng thời tình báo là chiến si tiền phong của chánh trị, và quân sự là chân tay của chánh trị.

        Thực chất của triết học thoát ra từ ý hướng hướng dẫn, tìm hiểu và giáo dục. Thực chất của Cách Mạng Tâm Thân chính là một thứ thực chất triết học của võ học, với ý hướng hướng dẫn, tìm hiểu và giáo dục con người trong thực tế xã hội. Thực chất đó đuợc biểu hiện với hình đồ sau đây:

        Tâm và Thân là hai phần sinh hoạt tinh thần, và sinh hoạt vật chất. Tâm và Thân chính là hai phần tử đối nghịch và phối triển của sự sống con người. Nếu có điều hòa, sẽ có phát triển. Nếu thiếu điều hòa, con người sẽ thiên lệch, nặng về Thân mà nhẹ về Tâm, sẽ trở thành võ phu, võ biền, thất phu. Nặng về Tâm và nhẹ về Thân sẽ trở thành văn nhuợc, gàn dở, ảo tưởng. Yếu tố điều hòa Tâm và Thân chính là “Đạo” (Võ Đạo). Một quốc gia cung vậy: có nền văn minh tinh thần cao như Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, Ấn Độ mà thiếu văn minh vật chất làm căn bản cung không thể phần thịnh đuợc. Ngựợc lại, có nền văn minh vật chất cao mà văn minh tinh thần yếu kém, sẻ trở thành khủng hoảng, suy đồi, như Carthage, Hoa Kỳ…. Yếu tố điều hòa về cả vật chất và tinh thần là “chánh trị”. Có thể nói là: Chánh Trị chính là “Đạo” của Quốc Gia, cung như Việt Võ Đạo là “Đạo” của Tâm và Thân có sự hòa hợp và phối triển.

        Do đó, Cách Mạng Tâm Thân biểu hiện vu trụ quan và nhân sinh quan Việt Võ Đạo, với sứ vụ đào tạo con người toàn bị, con người toàn diện. Cách Mạng Tâm Thân do đó, có tính cách truờng cửu, trong lúc chánh trị chú trọng tới những đáp ứng thực tế.

        Thực chất của Cách Mạng Tâm Thân do đó, mang nhiều phẩm tính giáo dục, trong lúc phẩm tính của chính trị là xử dụng và điều hành.

B. Tiêu Hướng Của Cách Mạng Tâm Thân

        Tuy nhiên, giữa võ học (Việt Võ Đạo) và chánh trị cùng có một ý hướng chung để đạt tới: Ý hướng phục vụ dân tộc cùng do dân tộc và vì dân tộc.

        Nhưng vào thực tế, võ học và chánh trị đã đuong nhiên trở thành hai nghành chuyên môn khác nhau, có thể ảnh hưởng lẩn nhau (nếu chánh trị có tiêu hướng tốt), nhưng không thể đồng hóa với nhau thành một.

        Võ học thời Trần (với cuộc cách mạng tâm thân có ý hướng mặc nhiên) không phải phát triển với sứ vụ chống Mông Cổ (vì lúc đó chua có hiếm họa xâm lăng của Mông Cổ) hoặc Nam tiến (vì Trần triều chỉ đánh khi bị xâm phạm) nhưng đương nhiên trở thành một co quan yếu của lịch sử. Tôn Dật Tiên ảnh hưởng thuyết “Tri Hành Hợp Nhất” của Vương Dương Minh và những tư tưởng của Montesquieu, Jean Jacques Rousseau mà đề xướng Tam Dân Chủ Nghia, nhưng không thể khẳn định rằng triết học Trung Quốc và triết học Tây Phương đã phục vụ cho đuờng lối tranh đấu của ông. Ngược lại chính công thức Tam Dân đã định hướng cho Cách Mạng Tân Hợi (1911) Trung Quốc, nhưng chúng ta cũng không thể khẳng định rằng chánh trị đã phục vụ cho triết học trong trường hợp này. Ấy là mối tương quan tất nhiên của những nghành học nhân bản.

        Do đó, tiêu hướng của Cách Mạng Tâm Thân khác hẳn những tiêu hướng chánh trị, và gồm có những điểm đạt tới:

  1. Điều hòa và kiện toàn Tâm và Thân bằng lẽ Đạo (Võ Đạo) để tạo thế quân bình cho con người lý tưởng Việt Võ Đạo.
  2. Hướng dụng con người vào những công việc tốt đẹp: yêu người, yêu nước với tâm thức thanh khiết và thể chất vững mạnh, trọng phải (nhưng không sốc nổi), bỏ quấy (nhưng không tàn bạo) với thế trung hòa.
  3. Tranh đấu tích cực và linh mẫn xây dựng công bằng xã hội (nhưng không bị huyễn hoặc, mua chuộc, lợi dụng).
  4. Phát huy tinh thần võ đạo trong cộng đồng dân tộc trên mọi lãnh vực (chánh trị, kinh tế, giáo dục…) bằng vu quan trụ và nhân sinh quan Việt Võ Đạo.

        Như vậy, Thực Chất và Tiêu Hướng của Cách Mạng Tâm Thân nghiêng về quan niệm đức lý (quan niệm 1), chớ không tùy thuộc vào khuynh hướng tranh đấu chánh trị và cao hơn khuynh hướng chuyên môn hóa võ học (vì nếu chỉ quảng bá võ học thuần túy, đó chỉ là võ thuật, không còn là võ đạo).

        Tất nhiên, con người võ đạo không phải là con người tiêu cực, từ chối tranh đấu. Nhưng mỗi nghành mỗi nghề, mỗi đoàn thể, tập thể đều có những phương thức tranh đấu riêng. Chánh trị có những biện pháp tranh đấu của chánh trị. Quân sự có những biện pháp tranh đấu của quân sự. Tôn giáo có những biện pháp tranh đấu của tôn giáo. Kinh tế có những biện pháp tranh đấu của kinh tế. Văn học có những biện pháp tranh đấu của văn học. Võ học có những biện pháp tranh đấu của võ học. Việt Võ Đạo có những biện pháp tranh đấu của Việt Võ Đạo…

        Nhiều triết gia, chánh trị gia, học giả lỗi lạc đã công nhận: “Hơn bao giờ hết, cuộc tranh đấu gay go nhất, gian khổ nhất của con người hậu bán thế kỷ 20 là tranh đấu với chính mình“. Tại sao phải tranh đấu với chính mình? Vì con người của hậu bán thế kỷ 20 cô đon hon những năm, thập niên và thế kỷ trước nhiều: luôn luôn là môi trường tốt cho những vi trùng tham vọng, dục vọng, tính xấu, nhược điểm.

        Con người tàn sát nhau, tiêu diệt nhau, chính vì thiếu bản lãnh tự chủ (làm chủ chính mình). Nguyên Tổng Thống Mỹ Johnson đã thú nhận: chính vợ tôi là nguồn nâng đỡ hữu hiệu nhất của tôi trong những lúc khó khăn nhất…

        Con người thay đổi theo chiều hướng tốt, bộ mặt dân tộc sẽ thay đổi, bộ mặt thế giới sẽ thay đổi. Chánh trị sẽ phải thay đổi theo, vì không thể nào tinh vị và tách rời khỏi những vấn đề nhân bản.

        Con người thời Trần thay đổi, vận nước cung thay đổi (đánh không hòa với Mông Cổ). Con người Nhật Bản thay đổi và đuợc võ trang bằng tinh thần Nhật Võ Đạo, uy thế chánh trị và kinh tế của Nhật cung thay đổi theo, để trở thành những chánh sách đặc thù của Nhật Bản hiện nay.

        Tất cả khởi bắt đầu từ mức khởi đầu: Cách Mạng Tâm Thân……

Bốn Định Lý Của Cách Mạng Tâm Thân

         Nói đến vật chất và tinh thần, từ xưa tới nay, đã có rất nhiều định đề triết học đối nghịch và dung hòa, phân hóa thành các triết thuyết và triết phái duy tâm (idealism), triết thuyết duy vật (materialism), và nhị nguyên luận (dualism). Liệu chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân có bị ảnh hưởng gì thuyết nhị nguyên luận không? Hoặc giả, chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân có phải là một biến thể, một định đề nhị nguyên mới không?.

        Chúng ta phải khẳng định ngay rằng: không phải.

        Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân, phần thực hiện của vu trụ quan và nhân sinh quan Việt Võ Đạo với bản thân. Do đó, từ các định lý tam nguyên, tam tạo, thường dịch và miên sinh, áp dụng vào nhân sinh quan Việt Võ Đạo với ba phần vụ sống (sống, giúp người khác sống, và sống cho người khác), đã gợi ngay cho chúng ta một ý niệm về tam nguyên luận. Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân chính là sự thể hiện tinh thần tam nguyên, tam tạo, thường dịch và miên sinh vào ngay cuộc sống bản thân của con người Việt Võ Đạo, coi Tâm và Thân là hai thành tố âm dương, cần phải cách mạng, như Đạo phối hợp điều hòa, làm trưởng triển.

        Về những yếu tố hình thành chủ thuyết , chúng ta phải ôn thảo lại hoàn cảnh dân tộc trong khoảng thời gian từ 1930-1938, tức trước năm 1938 – năm thành lập môn phái Vovinam Việt Võ Đạo. Đó là những năm sôi động nhất của các phong trào cách mạng chống Pháp, như: phong trào Đội Cấn Lương Ngọc Quyến khởi nghia; vụ ám sát hụt toàn quyền Pháp Merlin tại Quảng Châu của liệt si Phạm Hồng Thái; Đông Kinh Nghia Thục, rồi Á Tế Á Áp Bức Nhược Tiểu Dân Tộc Hội của Nguyễn Ái Quốc, Lâm Viết Thu; Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội của Phan Bội Châu, Nguyễn Hải Thuần, Nguyễn Ái Quốc; Việt Nam Độc Lập của Nguyễn Thế Truyền; Đảng Phục Việt (sau đổi tên là Tân Việt Cách Mạng Đảng); Nam Đồng Thư Xã của Phạm Tuấn Tài, Hoàng Phạm Trân (Nhượng Tống); Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học, Phạm Hồng Thái; Đông Duong Cộng Sản Đảng; Đông Duong đại hội nghị; Phục Quốc Quân của Trần Trung Lập; Đại Việt Dân Chính (Đại Việt Quốc Xã) của Nguyễn Trường Tam, Trương Đình Tri…

        Gạt bỏ vấn đề tổ chức và kỷ thuật qua một bên, Cố Võ Sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc đã nhìn thấy lý do thất bại tự thân của các phong trào cách mạng về mặt nhân sự: đa số thanh niên thời đó tuy “tâm” vững vàng, nhưng trì trệ, thiếu linh mẫn thức thời, thân thế bạc nhược, thiếu khả năng chịu đựng bền bỉ dẻo dai, để có thể “chịu trận” trước một địch thủ hùng hậu về mọi mặt, là thực dân Pháp đuong thời.

        Muốn tăng cuờng khả năng dân tộc, phải “thay đổi”.

        “Thay đổi tâm” để tình cảm, ý chí xung mãn, linh thức khoáng đạt, vượt thoát lên khỏi nhu nhược thế thường nhất là những bạc nhượt tinh thần do chánh sách ngu dân đầu độc.

        “Thay đổi thân”, để cơ thể thân chất hùng mạnh, có khả năng chịu đựng cao và bền bỉ, trước mọi thử thách của hoàn cảnh.

        Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân ra đời từ đó, cùng với sự xuất hiện công khai của môn phái Vovinam Việt Võ Đạo.

Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân có bốn định lý:

  1. Tâm Thân Phối Triển
  2. Cương Nhu Phối Triển
  3. Tri hành Phối Triển
  4. Việt Ngã, Độ Tha, và Thăng Hóa

Định Lý 1: Tâm Thân Phối Triển

        Định lý này đuợc thể hiện từ nguyên lý “tam đạo” của Vu Trụ Quan Việt Võ Đạo.

        Sự phối triển tâm thân không phải là song hành, như hai đường rầy xe lửa song song, hoặc như một đóa hoa mà các phần bầu, tràng, nhị, cánh hoa, cuốn hoa đã kết hợp lại thành từng phần rõ rệt. Trái lại, sự phối triển của tâm thân có tính cách hỗn hợp và hòa hợp, như một hợp chất kim khí.

        Sự phối triển này cung gợi lại cho ta phát kiến của đạo si Trương Tam Phong, Sáng Tổ môn phái Võ Đuong mà các phương pháp thể dục vẫn thịnh hành tại cả Đài Loan và Trung Hoa lục địa. Đó là sự phát kiến nguồn gốc của quan hệ giữa con người với thiên nhiên, cùng có xuất xứ từ Dịch học, trong đó con nguời là một tiểu vu trụ và thiên nhiên là một đại vu trụ. Phần tiểu vu trụ con người đuợc giải thích bằng khởi điểm là “Đạo” hay “Thái Cực”: Thái Cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Theo Trương Tam Phong, Thái Cực áp dụng vào võ học là đầu, lưỡng nghi là hai mắt, tứ tượng là bốn chân tay, và bát quái là tám phần chính của chân tay (tay chân chia làm hai phần chính là những lóng xương…)

        Tuy nhiên, đạo si Trương Tam Phong đã chỉ riêng chú trọng tới phần nhân thân khi thái dụng vào võ học, còn phần vụ đạo đức đuong nhiên đuợc coi là độc lập với thân thể.

        Định lý Tâm Thân Phối Triển của môn phái Vovinam – Việt Võ Đạo có khác hơn: tuy công nhận Tâm và Thân là hai hiện hữu có giá trị độc lập, nhưng đồng thời cung có giá trị liên lập đặc biệt, không thể tách rời. Ví dụ: nếu bỏ phần thân xác đi, phần tâm không thể tồn tại ở mức độ bình thường. Do đó, muốn duy trì tâm thân, không những chúng ta phải hòa hợp chúng, mà còn phải phối triển, điều hòa chúng thường xuyên, để chúng trưởng triển và hiện hữu lâu dài. Vì vậy , võ học phải luôn phối triển với đạo học, để tạo sự quân bình để thoát khỏi những nhược điểm cổ truyền (võ học nặng về thân, đạo học nặng về tâm).

        Điều cần lưu ý đặc biệt ở đây là tâm không phải chỉ có nghia đon giản là tim, mà đã tỏa rộng ra định nghia tâm hồn (tấc nhiên không thuần túy có nghia là hồn), tương tự như triết ngữ “le spirituel” bao gồm cả sinh hoạt tinh thần, lý trí, tình cảm, tiềm thức, vô thức… Do đó , phối triển tâm thân chính là phối triển thực hữu tinh thần của ta với thực hữu vật chất của ta, trên mọi lãnh vực.

Định Lý 2: Cương Nhu Phối Triển

        Định lý này xuất phát từ vu trụ quan Việt Võ Đạo: tam nguyên, tam tạo, thường dịch và miên sinh.

        Định lý này chú trọng tới tính chất của sự vật: cứng và mền, như âm với dương.

        Cứng, chỉ chung những vật thể có tính cứng (cương tính) tương đối. Mềm, chỉ chung những vật thể có tính mềm (nhu tính) tương đối, dù ở thể lỏng hay thể hơi…

        Sở di chúng ta cho hai tính chất này có giá trị tương đối, vì còn tùy thuộc nhiều vào ngoại cảnh. Ví dụ: nước ở thể lỏng, nhưng gặp lạnh tụ lại đặc cứng thành đá, sắt ở thể cứng, nhưng cho vào lò luyện kim lại chuyển sang thể lỏng…

        Lão Lai Tử, với giai thoại “mềm còn cứng mất” khi dặn dò môn đệ qua những câu hỏi về sự tồn tại của răng và lưỡi, đã nhìn thấy chân giá trị của mềm. Nhưng giả dụ rằng nếu làm một động tác mạnh (ví dụ: bằng dao) cứa vào răng với lưỡi, chúng ta sẽ thấy kết quả ngược lại: mềm mất, cứng còn. Hoặc như người nấu một nồi nước phở trong một thời lượng ấn định, chúng ta sẽ thấy phần mềm nhất là thịt và gân tan rã, còn phần xương vẫn nguyên vẹn.

        Như vậy, không nhất thiết là mềm có giá trị lấn áp cứng, và ngược lại cung vậy.

        Định lý cương nhu phối triển không những cho chúng ta sự phối hợp, điều hòa và phát triển của cả hai tính cương nhu trong võ học, mà còn cả trong đạo học và đời sống thông thường.

        Trên các lãnh vực quân sự, chánh trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giao tế nhân sự… luôn luôn chúng ta thấy có sự hòa điệu giữa “mềm” và “cứng”. Về quân sự, chúng ta thường nghe những thành ngữ “đánh vào chổ địch yếu”, “tiêu hao”, “tiêu diệt”, “vừa đàm vừa đánh”… chính là sự phối triển nhu tính và cương tính của quân sự. Trên lãnh vực kinh tế, hàng rào quan thuế nhắm vào hàng nhập cảng trong lúc hàng nội hóa chỉ phải chịu một mức thuế nhẹ, cung là phối triển cương tính và nhu tính. Trên lãnh vực văn hóa xã hội, bài trừ văn hóa đồi trụy, các tệ đoan xã hội là cương, trong lúc nâng đỡ những tư trào và sản phẩm văn hóa lành mạnh, dân tộc, tiến bộ là nhu. Trên lãnh vực giao tế nhân sự, cách thuyết phục đôi khi phải cương quyết, đôi khi phải ôn hòa mới có thể thâu thái đuợc kết quả khả quan, là biết ứng dụng cương nhu đúng lúc, đúng chỗ.

        Thừa nhận hai yếu tính cương nhu trong đời sống là chúng ta mặc nhiên thừa nhận rằng, cần phải phối hợp, điều hòa và phát triển nó. Đó chính là định lý cương nhu phối triển đuợc minh định trong Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân.

Định Lý 3: Tri Hành Phối Triển

        Định lý này, thoạt nghe tưởng như chỉ là một hình thức cải danh của thuyết “tri hành hợp nhất” của triết gia Vương Dương Minh, đời Minh. Về căn bản, thuyết này đuợc đề xướng, nhằm mục đích chống lại lối học hư văn, cử tử đuong thời, để vận động si tử Trung Quốc bước vào lối học thực dụng.

        Quan niệm này mới nghe tưởng như thực tế vì đã chú trọng đặc biệt tới vấn đề phục vụ nhân sinh nhưng thực ra, chúng ta điều biết lãnh vực trí thức có những bộ môn không nhất thiết phải áp dụng vào thực tế có giá trị thực dụng, như: siêu hình học, tâm lý học, linh hồn học, triết học… Hoặc nói một cách khác hơn, nếu đánh giá những môn học có tính cách trí thức thuần túy bằng giá trị thực dụng tức thời thì khoa thiên văn học thời Copernic hoàn toàn vô dụng, làm sao có giá trị đuợc bằng các khoa học khác có thể ứng dụng ngay vào thực tế như y học, canh nông học, kiến trúc học.

        Do đó, sự hợp nhất tri và hành chỉ có tính cách gò ép và giả tạo, để phục vụ một nhu cầu cấp bách nào đó của xã hội.

        Định lý tri hành phối triển có khác hơn. Dù có hợp nhất hay không hợp nhất, dù tương hợp hay xung khắc, trí (trí thức) và hành (hành động) vẫn cần phối hợp và phát triển, trưởng triển, như hai nguyên tố âm dương tối cần thiết trong sự sống. Cả hai đều phải bổ túc cho nhau (tuy đôi khi phải bổ túc bằng sự chống đối) để cùng trưởng triển.

        Định lý này áp dụng vào thực tế sinh hoạt võ đạo, võ thuật, chúng ta càng thấy sự cần thiết của nó. Trước hết, chúng ta học võ để làm gì? Chính mục đích học võ (“tri”) sẽ bồi dưỡng cho việc dụng võ (“hành”) để đạt đích (“phối triển”) và ngược lại. Ý thức học võ và thực tế hành võ sẽ phối triển với nhau, thành quan niệm sống và quan niệm làm việc của người môn sinh Việt Võ Đạo.

Định Lý 4: Việt Ngã, Độ Tha và Thăng Hóa

        Vận dụng, điều hòa ba định lý trên, chúng ta sẽ thực hiện định lý thứ tư, và cũng là định lý cuối cùng của Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân: việt ngã, độ tha và thăng hóa.

  • Việt Ngã: việt, vượt; ngã, tôi, ta (tiểu ngã).
  • Độ Tha: độ, cứu giúp (cứu độ); tha, người khác (tha nhân).
  • Thăng Hóa: sự kết tinh, hội tụ ở mức cao.

        Thực hiện định lý này, chúng ta phải kinh qua ba thời kỳ như một công trình tu dưỡng:

Thời Kỳ 1: Việt Ngã

        Thông thường, con người sống, hoạt động, xử kỷ tiếp vật, thường có ý hướng lấy bản thân mình làm chủ, chỉ vì mình, chỉ biết có mình (vị ngã). Nhưng khi hội nhập vào sinh hoạt cộng đồng, ý hướng trên bị một số ước thúc xã hội kiềm chế, nên không thể biểu dương và xiển dương công khai, và mặc khác, còn bị chi phối hoặc bị ảnh hưởng bởi các ước thúc xã hội, dù theo chiều hướng thuận (vì mình) hay theo chiều hướng nghịch (không vì mình).

        Tình huống vị ngã bị kiềm chế, lắng lại theo chiều hướng thuận, đuợc biểu dương dưới mọi danh nghia khác nhau để đạt tới mục đích tối hậu là chỉ biết làm lợi ích cho mình là tình huống vị kỷ.

        Tình huống vị kỷ chính là tình huống vị ngã đã thăng hóa.

        Ngô Khởi, với tình huống vị ngã bị dồn nén, đuợc che đậy trong một thời gian khá lâu về tình vợ chồng, gây cho mọi người ảo tưởng về chồng tốt. Cơ hội tới, tình huống vị kỷ thăng hóa: sát thê cầu tướng. Trần Di Ái, lúc bình thường là bầy tôi tốt tình huống vị ngã đuợc che đậy. Cơ hội tới, đuợc quân Nguyên o bế, sẳn sàng mãi quốc cầu vinh. Cô Quờn đốt chồng vì ghen, khi tình huống vi kỷ thăng hóa; nhung truớc đó, tình huống vị ngã bị ước thúc xã hội kiềm chế, nên đuợc che đậy dưới tiếng tốt là vợ hiền…

        Muốn tránh tình huống vị ngã, chúng ta phải tu dưỡng tập quán việt ngã: vượt thoát khỏi tình huống vì mình để biết từ mình nghi tới người.

        Trần Hưng Đạo đặt quyền lợi quốc gia lên trên thù hận gia đình và cá nhân với Trần Nhân Tông và Trần Quang Khải, chính là vì ông đã vượt thoát khỏi đuợc tình huống vị ngã, đạt tới trạng thái việt ngã, biết đồng thời nghi tới người. Ngu Viên trái lại, cố gắng can gián vua Ngô Phù Sai để đến nỗi chết thảm và mang tiếng ngu trung, chính là vì chưa đạt tới trạng thái việt ngã: vì chúa mà can nhưng cũng vì chủ kiến của mình mà can nên đã đem lại kết quả hoàn toàn suy xụp cho bản thân và cho nước Ngô. Câu Tiễn, Văn Chủng cung ở trường hợp tương tự: lúc mưu phục thù Ngô, ở trong tình huống việt ngã, nhưng lúc thắng Ngô, cả hai trở lại trạng thái vị ngã nên người độc tài, kẻ uổng tử. Phạm Lãi trái lại, biết vượt thoát đuợc “cái Ta” mà mình đang có, lẳng lặng từ quan lui về cuộc sống thường dân, nên đã vượt thoát khỏi những vinh nhục khống chế của hoàn cảnh.

Thời Kỳ 2: Độ Tha

        Việt ngã rồi chuyển sang một trạng thái khác: độ tha và không độ tha.

        Mặc Tử sau khi việt ngã, chỉ nghi đến “kiêm ái”, “cứu đời”: Mặc Tử ma đỉnh phỏng thủng lợi thiên hạ, vi chi (Mặc Tử nhẵn trán mòn gót lợi thiên hạ, vẩn làm).

        Trang Tử đạt đạo rồi xuất thế, bỏ mặc chuyện đời.

        Lão Tử đạt đạo rồi, yếm thế: phù duy bất tranh, mạc năng thiên hạ hà dữ chi tranh? (Chỉ duy không tranh giành, làm sao trong thiên hạ còn ai tranh giành với mình).

        Do đó, có nguời việt ngã mà không có độ tha, tức vượt thoát khỏi “cái Ta”, biết từ mình nghi tới người nhưng vẩn không tìm cách thiết thực cứu giúp người khác. Ngược lại, có người việt ngã rồi độ tha, tức vượt thoát đuợc “cái Tôi”, ” cái Ta” của mình rồi, luôn luôn đặt mình vào kẻ khác, nghi và làm việc cứu giúp người khác.

        Tình huống độ tha thoạt nghe, chúng ta có cảm tưởng như rất khó thực hiện, với lập luận rằng khó có thể nghi đến người khác, cứu giúp người khác trước nghi đến mình, cứu giúp mình, điều đó đòi hỏi nhiều thánh tính hơn là nhân tính. Sự thật trái lại, chính sự “nghi đến người khác” và “cứu giúp người khác” luôn luôn chiếm một khoảng thời gian lớn trong đời sống của mỗi chúng ta, khi chúng ta chấp nhận rằng chúng ta chỉ hoàn toàn vui sướng khi cảnh sống chung quanh tốt đẹp, cung như sự tự do của con người chỉ có giá trị tương đối và chỉ có tính cách “tự do chọn lựa” sự lệ thuộc vào những dữ kiện khách quan. Ví dụ: Vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em , bè bạn, đồng bào… luôn luôn có những quan hệ ràng buộc lẫn nhau, nghi đến cho nhau, vì nhau dù ở mức độ tối thiểu như nghe lời, thỏa hiệp tới mức tối đa là hy sinh cho nhau. Đó chính là tình huống độ tha của tấc cả chúng ta, thứ tình huống tự nhiên và tất hữu trong đời sống.

        Áp dụng vào thực tế đời sống, tấc cả những nỗ lực của chúng ta chính là ý thức hóa tình hướng độ tha, để tình huống này đang từ trạng thái tự nhiên, tấc hữu, nhỏ hẹp, vô thức, bất bình thường chuyển sang trạng thái tu dưỡng, thường hữu, rộng lớn, có ý thức và bình thường trong đời sống.

Thời Kỳ 3: Thăng Hóa

        Việt ngã và độ tha tới cao độ, sẽ thăng hóa.

        Thăng hóa sẽ không còn là tình huống như việt ngã và độ tha nữa, mà là một trạng thái tốt đẹp nhất của con người tu dưỡng tâm thân ở một mức cao. Trong trạng thái này người đạt đạo không còn phải bận tâm vận dụng tình cảm, lý trí, cảm giác, ý thức, tiềm thức, vô thức nữa, nên cung không còn phải điều dụng ý thức tổng hợp, ý thức phân tích hoặc ý thức phản luận vào ngoại cảnh nữa.

        Trạng thái thăng hóa thoạt nghe tưởng như xa vời khả năng hữu hạn của con người. Nhưng thực ra, trong đời chúng ta ai cung đã gặp rất nhiều trạng thái thăng hóa trong đời sống thực tế mà không biết. Anh chiến si kể lại: tôi rất sợ máu… nhưng khi thấy đồng bào chết nhiều quá, máu nhiều quá, tôi bỗng không sợ nữa, mà cầm tiểu liên lia vào địch một loạt… đó là ý thức phản luận của anh đã thăng hóa, nên anh không còn suy nghi là có phản luận hay không nữa. Một nhà tỉ phú kể lại lúc còn nghèo khổ: vợ ốm, con đói… tôi không còn biết làm gì để lo cho gia đình, tuy vẫn cảm thấy phải làm một việc gì. Từ đó gặp gì tôi cung làm, may mắn tôi gặp mối rồi làm ăn khá ra… đó là trạng thái thăng hóa về trách nhiệm.

        Chúng ta thường nghe nói tình yêu có thể biến đổi một kẻ hèn nhát thành anh hùng, và một người anh hùng thành một kẻ hèn nhát, trên là trạng thái thăng hóa của tình yêu. (1)

        Trong đời sống cung như đời tư, chúng ta rất cần tới trạng thái thăng hóa: Về tu dưỡng tâm thân, trạng thái thăng hóa chỉ đến với chúng ta khi đã đạt tới mức độ cần thiết, sẽ giúp chúng ta giải quyết những vấn đề của đời sống một cách linh mẫn.

        Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân của môn phái Vovinam – Việt Võ Đạo chịu ảnh hưởng sâu đậm của triết học là phần thực dụng của vu trụ quan, nhân sinh quan Việt Võ Đạo, nhưng không phải là triết học, và nhất là càng chịu không ảnh hưởng gì ở nhị nguyên luận.

        Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân chính là chủ thuyết giáo dục Việt Võ Đạo trong việc đào tạo và xây dựng một lớp người Việt mới, kiện toàn cả tâm và thân, khi hội nhập vào sinh hoạt cộng đồng dân tộc.

        Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân cung không phải chỉ là lý thuyết giáo dục thuần túy, mà là lý thuyết giáo dục thực dụng vào mọi sinh hoạt võ học, với các định lý: tâm thân phối triển, cương nhu phối triển, tri hành phối triển, việt ngã, độ tha, và thăng hóa, cả tâm hồn và thân chất, để truyền thông, nghị lực mới với các thế hệ môn sinh kế tục.

        Do đó, việc học tập, tu dưỡng và thái dụng Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân là một công trình thực dụng, đòi hỏi tấc cả chúng ta tinh thần kiên tâm trì chí để học, hỏi, hiểu, và hành.

                                                                *************************

Chú Thích:
(1) Sự định giá trên đuợc luận cứ với quan điểm ca ngợi anh hùng. Ngược lại, quan điểm ca ngợi thuần túy có thể luận cứ khác hẳn, như: Người hùng hy sinh sự nghiệp cho tình yêu mới là thăng hóa, nguợc lại là phản thăng hóa…

 

 

Vu Trụ Quan – Nhân Sinh Quan Việt Võ Đạo

 

I. Lời Nói Đầu

Môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo là một võ đạo, thoát ra từ ý lực của Cố Võ Sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc từ năm 1938. Sau đó, dần dần cùng với các võ sư môn đệ tâm huyết, đuờng lối mới đuợc tu bồi, vun đắp, và hình thành rõ rệt thành một võ đạo.

Võ đạo của Vovinam là một võ đạo thuần túy, di nhiên là không nhận ảnh hưởng trực tiếp của các tôn giáo, triết phái và các đoàn thể chính trị. Nhưng môn phái Vovinam thành thật quan niệm rằng, dù muốn hay không, hệ tư tưởng của môn phái chính là một sản phẩm của xã hội qua các giai đoạn lịch sử của dân tộc ta.

Đà lên, xuống của môn phái Vovinam trong suốt hơn nửa thế kỷ thành lập, cung tùy thuộc một phần nào vào các biến cố của dân tộc. Tới ngày nay, sở di môn phái ta vẫn tồn tại và phát huy đuợc, chính vì Vovinam là một võ đạo, đã có một vũ trụ quan và nhân sinh quan đầy đủ cho các môn đệ. Võ đạo ấy, mỗi ngày đuợc tô bồi thêm, và hình thành rõ rệt.

Tìm hiểu Việt Võ Đạo, chính là tìm hiểu về vũ trụ quannhân sinh quan của môn phái Vovinam.

II. Vũ Trụ Quan Việt Võ Đạo

Vì Việt Võ Đạo là một sản phẩm của xã hội, của dân tộc, của lịch sử nên vũ trụ quan của người Việt võ sĩ cũng phản ánh khá nhiều sắc thái sinh hoạt toàn diện của dân tộc ta.

Bốn định lý về vũ trụ quan của người Việt võ sĩ là:

  1. Định lý tam nguyên
  2. Định lý tam tạo
  3. Định lý thường dịch
  4. Định lý miên sinh

A. Định Lý Tam Nguyên

Định hay luật: Những quy tắc căn bản trong việc nhận định, xem xét. Có 7 thứ định lý (hay luật)

    1. Thiên luật: tức luật của trời
    2. Nhiên luật: tức luật của thiên nhiên và con người
    3. Dân luật: tức luật về dân sự
    4. Quân luật: tức luật về quân sự
    5. Giáo luật: tức luật tôn giáo
    6. Luật quốc tế: tức những điều luật đuợc áp dụng trong phạm vi giao dịch quốc tế

Định lý (hay luật) ở đây là thuộc về nhiên luật, gồm những quy tắc hướng dẫn căn bản để nhận định về thiên nhiên, con người, và xã hội.

Tam Nguyên

    • Tam: ba
    • Nguyên: nguyên lý

Định lý đầu tiên về vũ trụ luận của môn phái Vovinam là công nhận có 3 nguyên lý trong sinh hoạt thiên nhiên, gọi tắt là định lý tam nguyên. Ba nguyên lý đó là: thừa nhận trong sinh hoạt thiên nhiên có nguyên lý tiên nguyên, có nguyên lý vi nguyên, và có nguyên lý quán nguyên.

1. Nguyên lý tiên nguyên:

Vạn vật đều do nguyên lý tiên nguyên tác thành

Nguyên lý ấy là sự thừa nhận mỗi sự mỗi vật đều có cội nguồn. Do đó, các nhà khoa học thì vận dụng mọi thành tựu khoa học để khám phá thiên nhiên, tìm đến nguồn gốc của trái đất, nguồn gốc của con người, còn các tôn giáo nhận có các Đấng thiêng liêng sáng tạo để lý giải trong mọi vấn đề. Việt Võ Đạo trực cảm từ các chủ thể hữu hình, hữu hiệu ở mọi nơi, mọi lúc, liên miên bất tận mà liên tưởng tới một chủ thể siêu hình bao trùm chi phối tất cả, đuợc gọi bằng nhiều tên khác nhau, nhưng thực chất vẫn chỉ là một.

Võ phái có võ tổ, gia đình có gia trưởng, gia tộc có tộc trưởng, sự sống có chủ thể, đó là nguyên lý tiên nguyên.

Nguyên lý tiên nguyên này đuợc gọi bằng nhiều tên khác nhau, trên mọi địa hạt tôn giáo, triết học như: Thiên Chúa, Thượng Đế, Brahma, Allah, Đà sống, Ý Tưởng Tuyệt Đối, Chân Như, Đạo…

Tóm lại, công nhận có nguyên lý tiên nguyên là công nhận có chủ thể siêu hình và hữu hình trong mọi cuộc sống dù lớn hay nhỏ. Cao hơn cả, là một chủ thể chí thiện, chí mỹ, và quán thông, tồn tại vinh cửu trong mọi điều kiện không gian, thời gian.

2. Nguyên lý vi nguyên:

Vạn vật đều do nguyên lý vi nguyên tác thành.

Khác với nguyên lý tiên thiên chỉ có thể nhận thấy, cảm thấy, nguyên lý vi nguyên là những gì khoa học có thể thực nghiệm và chứng minh.

Nguyên tử, tế bào cung là những vi nguyên trong cuộc sống. Các đơn chất hóa học cung là những vi nguyên.

Nhận có nguyên lý vi nguyên, là thừa nhận rằng, vạn vật từ một ý niệm “phải có” (của nguyên lý tiên nguyên) muốn chuyển sang một thực trạng “đã có”, phải có nguyên lý vi nguyên mới cấu thành đuợc. Hoặc nói cách khác, nếu không có những vi nguyên, không thể có vu trụ vạn vật. Cung như không thừa nhận con người, không thể có nhân loại; không thừa nhận công dân, không thể có quốc gia.

Thừa nhận những cái vi nguyên, chính là thừa nhận giá trị của những cái nhỏ nhất trong cuộc sống, và đó là một trong những ý thức căn bản của ý thức hệ Vovinam.

3. Nguyên lý quán nguyên:

Vạn vật đều do nguyên lý quán nguyên tập hợp thành.

Qua những ý niệm trên, ta thấy rõ ràng từ một ý niệm “phải có” đến thực trạng “đã có”, còn có một nguyên lý trung gian nữa làm nhiệm vụ “làm thế nào để có”.

Nguyên lý trung gian này chính là hợp chất của sự vật, gắn bó, tập hợp những nguyên vi của sự vật.

Ví dụ: khi ta nói “nước ròng”, nước ròng là một quán nguyên thể của công thức H2O; khi ta nói “dân tộc Việt Nam”, dân tộc Việt Nam là một quán nguyên thể 75 triệu người; khi ta nói “Vovinam”, Vovinam là một quán nguyên thể của một tổ chức võ đạo đã sinh hoạt đuợc hơn nửa thế kỷ.

Quán nguyên thể “nước” là một thực thể hữu hình, nhưng quán nguyên thể “Dân tộc Việt Nam”, “Vovinam” là một thực thể siêu hình, vì ta không thể dùng ngũ quan nhận biết trực tiếp đuợc.

Tóm lại, thừa nhận nguyên lý quán nguyên là thừa nhận sự tập hợp hình thành của những vi nguyên thể sự vật trong mọi điều kiện và hoàn cảnh.

B. Định Lý Tam Tạo

Định lý tam tạo là một định lý thừa nhận rằng vu trụ, vạn vật là do 3 thành tố tạo nên. Ba thành tố đó là: Âm tố, Dương tố và Đạo thể, gọi tắc là Âm, Dương, Đạo.

Võ đạo và võ thuật của môn phái Vovinam do Cố Võ Sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc sáng tạo ra, chính đã thâu thái tinh hoa ở định lý này vậy.

Tại sao là Âm, Dương, Đạo?

  1. Âm: chỉ sự mềm, sự tinh, sự tối.
  2. Dương: chỉ sự cứng, sự động, sự sáng.
  3. Đạo: chỉ sự khắc chế, điều hòa, bao dung.

Áp dụng định lý trên vào võ đạo và võ thuật, chúng ta thấy nổi bật lên những đặc điểm này:

  1. Việt Võ Đạo thừa nhận giá trị của vạn vật có 2 mặt tương phản nhau: mềm cứng, động tinh, sáng tối, phải quấy, tốt xấu, thiện ác, tâm vật… những cung đồng thời thừa nhận một thực thể thứ ba có thể khắc chế, điều hòa, phối hợp, bao dung đuợc 2 thực thể tương phản kia.
  2. Việt Võ Đạo thừa nhận rằng những giá trị đối lập luôn ở trong trạng thái thôi thúc nhau, biến hóa lẫn nhau trong một sinh thể hòa hợp thống nhất.
  3. Việt Võ Đạo chú trọng tới bao dung, hóa giải các trạng thái thôi thúc, đối nghịch của sự vật; vì vậy, đạo sống cung như đạo võ của Việt Võ Đạo là bao dung, hóa giải, điều hòa, tuy vẫn thừ nhật những trạng thái mâu thuẫn của sự vật, đối lập mà thống nhất.
  4. Nghệ thuật cao độ của Việt Võ Đạo là chú trọng tới Đạo nhiều hơn Thuật.

C. Định Lý Thường Dịch

  • Thường: luôn luôn, không ngừng.
  • Dịch: biến đổi, chuyển dịch.

Định Lý Thường Dịch: tất cả mọi sự vật trên đời đều biến đổi luôn luôn, không ngừng.

Đã nhận thức rằng vạn vật đều có 2 tính “âm dương” và được hưởng sự bao dung của Đạo, tức nhận có biến dịch. Nhưng tại sao lại là “thường dịch”? Cả “Đạo thể” của Việt Võ Đạo cùng biến đổi luôn ư?

Việt Võ Đạo thừa nhận có tuyệt đối, những cung thừa nhận có tương đối, tức trong cái tuyệt đối vẫn có cái tương đối, và trong cái tương đối vẫn có cái tuyệt đối. Thừa nhận như vậy, chính là Thường Dịch.

Không có gì hoàn toàn tinh, hoàn toàn động. Thừa nhận như vậy là thường dịch.

Lão Tử, khi giảng về “Đạo” cùng coi “Đạo” như một động thể. Tất cả các tôn giáo, tuy trước sau vẫn suy tôn một đấng nguyên lý tiên nguyên duy nhất, nhưng phương phái và cách thức suy tôn thời này không giống thời trước, đó là thường dịch. Những tinh vật trước mắt ta, mà ta có thể tưởng như tuyệt đối tinh – như những trái núi – vẫn di động và thay đổi không ngừng, đó là thường dịch.

Không có gì không thường dịch trên thế gian này kể cả những ý niệm. Nên nhớ: khi quan niệm và đưa ra một định lý như vậy, ý tưởng của chúng ta cung thường dịch rồi.

Thường dịch, nhưng có những cái thường dịch mau, thường dịch chậm. Sự thường dịch của trái đất, chúng ta chỉ cảm thấy chứ không trông thấy, nói chung. Sự thường dịch của một suối ta thấy ngay, vì ta trông thấy ngay trước mắt.

Có 3 chiều đi thuờng dịch theo lệ thường:

  1. Thường dịch mỗi lúc một xấu hơn.
  2. Thường dịch mỗi lúc một tốt hơn.
  3. Thường dịch lúc tốt hơn, lúc xấu hơn.

Trẻ nhỏ thường dịch để trở thành người trưởng thành, thế là thường dịch tốt hơn. Người trung niên càng sống sức khỏe càng yếu kém, thế là thường dịch xấu hơn. Người bình thường có lúc khỏe, lúc yếu, đó là thường dịch lúc tốt hơn, lúc xấu hơn.

Nhưng cả 3 chiều thường dịch trên đều chỉ là biểu diễn sự động của 2 tính âm dương mà thôi, vẫn còn một chiều đi nữa, chiều đi của con người Việt Võ Đạo.

Đó là:

Vượt lên khỏi những cái phải quấy, tốt xấu, cứng mềm, động tĩnh, sáng tối, thiện ác, tầm thường để bao dung chúng ở địa hạt tinh thần, điều hành chúng về phương diện thực tế, và hóa giải chúng về phương diện võ đạo và võ thuật. Đó là con đường “thường dịch” của Việt Võ Đạo.

D. Định Lý Miên Sinh

  • Miên: liên miên bất tận.
  • Sinh: sống.

Định Lý Miên Sinh: tất cả mọi sự vật trên đời đều có sự sống liên miên bất tận.

Tại sao Việt Võ Đạo lại quan niệm như vậy? Quan niệm như vậy, phải chăng là phủ nhận sự chết trong đời sống chăng?

Thực ra, sống và chết chỉ có một ý nghia tương đối; hoặc nói một cách khác, sống và chết là hai giai đoạn của cuộc sống liên miên bất tận, tức cuộc “miên sinh”.

Khi chúng ta đã thừa nhận rằng: mầm sống của cuộc sống là nguyên tử, và nguyên tử là một đon vị bất khả phân và toàn vẹn mãi mãi trong mọi trường hợp. là chúng ta đã mặc nhiên thừa nhận định lý miên sinh. Thật thế, trên thế gian này, không có gì là sống mãi và chết hẳn, không có gì đi từ hư tuyệt đối tới thực tuyệt đối. Cái mà chúng ta gọi là chết hay sống, thực ra chỉ là một phương trình miên sinh của sự vật, cũng như nước thành hơi hay thành băng đá, nhưng thực chất của “nước” có thay đổi gì đâu.

Nhu trường hợp ta dùng 12gr carbonium khử 18gr hơi nước, ta sẽ có 28gr carbon dioxide và 2gr hydrogen theo phương trình dưới đây:

C + OH2 –> CO + H2

Nhu vậy, sự sống của hơi nước (OH2) đâu có hết, vì thực ra nó chỉ tách ra, thuộc về 2 cuộc sống khác, để tiếp tục giòng miên sinh mà thôi.

Đời sống chúng ta cũng vậy. Đời sống vạn vật cũng vậy. Cái mà chúng ta tưởng rằng mất đi, thực ra vẫn còn, nhưng đã nhập điệu vào một cái gì khác hơn, để tiếp tục giòng miên sinh của nó. Hạt giống gieo xuống đất. Nhựa đất, thời tiết, sức người vun trồng thành cây. Cây cho quả. Quả lại cho hạt giống, chính là một trong nhừng nề nếp tiếp tục giòng miên sinh vậy.

III. Nhân Sinh Quan Việt Võ Đạo

Phân biệt vũ trụ quan, nhân sinh quan, thật ra chỉ là một sự phân biệt thường lệ về triết học. Vu trụ quan và nhân sinh quan chỉ là một luận thuyết duy nhất, trong đó nhân sinh quan chỉ là những định lý của vu trụ quan đem suy diễn mà thôi.

Áp dụng bốn định lý trên vào cuộc sống, nhân sinh quan Việt Võ Đạo có 4 nhận định căn bản:

  • Nhận định về sự sống
  • Nhận định về đích sống
  • Nhận định về tương quan giữa cá nhân với tập thể
  • Nhận định về đạo sống

A. Nhận Định Về Sự Sống

Trên thế gian này, không có sự vật nào có đơn lập tính tuyệt đối, vì chúng chỉ là những phần tử trong giòng miên sinh vô tận mà thôi.

Ta có thể áp dụng nhận định này vào mọi sự sống chung quan ta để chiêm nghiệm.

  • Về phương diện trắc nghiệm lý hóa, ta thấy: không có một nguyên tử nào tự tồn tại mà tạo nên sự sống đuợc.
  • Về phương diện quan sát, ta thấy: mọi sự sống xung quanh ta và cả sự sống bản thân ta, đều nhận chịu ảnh hưởng của nhiều sự sống xung quanh. Trái núi mà chúng ta tưởng như có thể đứng một mình, thật ra vẫn nhận chịu ảnh hưởng của những định lý địa lý tạo nên, như mưa, sương, gió, tuyết, cát soi mòn, những trận động đất làm di chuyển, ảnh hưởng của nước ngầm…
  • Về phương diện võ đạo và võ thuật, ta thấy: không có một danh thủ nào trong nghề võ có thể đứng một mình, không có một môn phái nào có thể đứng đon lập mà phát triển.

Do đó, nhận định về sự sống của Việt Võ Đạo là nhận chỗ đứng của mình trong tập thể võ đạo và võ thuật, tự coi mình chỉ là một phần tử trong giòng miên sinh của làng võ, cung như của nhân loại. Đã nhận định rằng không một sự vật nào có đon tính tuyệt đối, tất nhiên Việt Võ Đạo chủ trương dung hợp tất cả các võ phái, cung như các phần tử trong đại khối nhân loại để cùng thường dịch, miên sinh.

B. Nhận Định Về Đích Sống

Chỉ có những con người sống không có đích sống chớ không có đích sống nào mà không có sự sống.

Đích sống, tự nó đã có một ý nghia linh hoạt: để mà đạt tới. Muốn “đạt tới”, tất chúng ta phải nghĩ đến những phương cách “làm thế nào đạt tới”.

Ví dụ: người bắn cung, muốn đạt tới hồng tâm điểm, tức cái đích của việc bắn cung, anh ta phải lắp tên, căng dây, nhắm đích và buông dây. Những động tác này là những “sự sống” của việc nhắm bắn vậy.

Trong cuộc sống, có người sống có hoài bão, có lý tưởng, có người sống không có hoài bão, không có lý tưởng. Cũng như những hoài bão, lý tưởng của nhiều người có những điểm giống nhau, có những điểm khác nhau.

Ba người cùng học võ: Nếu ta đặt câu hỏi: “Bạn học võ để làm gì?”, tất có 3 câu trả lời khác nhau:

    • Người thứ nhất đáp: “Tôi học võ để tự vệ”.
    • Người thứ hai đáp: “Tôi học võ vì ham thích võ thuật”.
    • Người thứ ba đáp: “Tôi học võ vì nghĩ nrằng võ đạo và võ thuật có thể góp một phần không nhỏ vào việc cải tạo xã hội và xây dựng con người”.

Trong ba câu trả lời trên, ta thấy rõ: tuy cùng làm một việc mà mỗi người có một đích sống khác nhau. Quan niệm học võ của người thứ nhất là tự vệ, một mục đích thực tế, nhằm vào lợi ích thiết thân của mình trước đã. Quan niệm học võ của người thứ hai là vì ham thích võ thuật, anh ta có thể là một mẫu người điển hình cho việc yêu nghề võ, nếu sự ham thích đó không phải là một ngọn lửa rơm và có giá trị lâu dài. Chỉ riêng có quan niệm học võ của người thứ ba là có một ý nghia tổng quát về công việc mà anh ta đang theo đuổi, cùng những hoài bão mà anh ta ấp ủ, những lý tưởng mà anh ta mong mỏi thực hiện. Chỗ khác nhau cũng như điểm làm người thứ ba này nổi bật, khác hẳn hai người trên, chính là anh ta đã có một đích sống cao đẹp.

Võ đạo khác với võ thuật chính ở điểm này. Đối với Việt Võ Đạo, đích sống lại cần thiết lắm vì người môn sinh Việt Võ Đạo không phải chỉ mang nặng trên vai danh dự của mình và môn phái mình, mà còn mang nặng trên vai danh dự của dân tộc mình và tinh thần võ đạo của môn phái mình, trên những căn bản trách nhiệm làm người của mình, trước cuộc sống.

C. Nhận Định Về Tương Quan Giữa Cá Nhân và Tập Thể

Việt Võ Đạo thừa nhận Con Người là nguyên tố của Cuộc Sống, Cá Nhân là nguyên tố của Tập Thể, cung như những nguyên tố Âm Dương trong định lý tam tạo.

Nhưng cũng vì quan niệm như vậy, nên Việt Võ Đạo cùng thừa nhận theo như định lý tam tạo: nếu không có tập thể (Đạo) điều hành, 2 nguyên tố Âm, Dương sẽ tiêu diệt lẫn nhau, qua những biến thái: Cực Âm thành Dương, Cực Dương thành Âm, vì ngay trong Âm và Dương có những mầm mâu thuẫn nội tại.

Do đó, giữa Cá Nhân và Tập Thể, thời nào cung có những mối tương quan được đặt ra, làm căn bản cho những nền móng triết học, tôn giáo, chính trị, văn hóa và pháp lý… Việt Võ Đạo cung vậy, khi đã thừa nhận rằng giữa cá nhân với tập thể có những tương quan mật thiết, là đã mặc nhiên hệ thống hóa những mối tương quan ấy trong đời sống chung.

Nếu không có cá nhân lỗi lạc, tập thể không có những thành công phi thường. Nhưng không có những thành công phi thường nào chỉ do một cá nhân dù đó là một nhà bác học, một vị đại anh hùng. Einstein không thể thành công ở nước Đức, mà chỉ có thể thành công ở Mỹ. Khổng Minh là một cá nhân lỗi lạc, nhờ ông mà cơ nghiệp nhà Hán kéo dài thêm một thời gian, nhưng ông không thể đánh trận một mình, không có tập thể hỗ trợ. Cung như nếu không có những nguyên tố Âm Dương sẽ không có Đạo Thể, nhưng nếu chỉ có hai nguyên tố Âm, Dương mà không có Đạo Thể, hai nguyên tố này sẽ tru diệt lẫn nhau và tự hủy diệt.

Giữa cá nhân và tập thể đều có tương quan trách nhiệm. Tập thể vun trồng cho tài năng cá nhân nẩy nở, nhưng cá nhân phải hòa đồng vào tập thể mới có thể thành công trên bất cứ địa hạt nào.

B. Nhận Định Về Đạo Sống

Đạo Sống hay nhất tự cổ chí kim chỉ là Đạo Sống biết điều hòa Chủ Quan với Khách Quan, cung như Đạo Thể điều hòa hai nguyên tố Âm Dương. Võ Đạo điều hòa hai tính Cứng Mềm.

Do đó, Đạo Sống Việt Võ Đạo chỉ có ba phần vụ phải giải quyết: sống, giúp người khác sống, và sống cho người khác.

1. Về phần vụ “Sống”: phải sống hoàn chỉnh đầy đủ, để trở thành những Con Người, những con người toàn diện, những con người sống thực.

Di nhiên, Việt Võ Đạo không chấp nhận mọi lối sống của người máy, của loài vật, của thần thánh, của ma quỷ, vì co lối sống cao cả quá không theo đuợc, có lối sống tầm thường quá không thể toa rập.

Hãy sống với tất cả nhựa sống của mình, làm sao mỗi người có ý thức hơn và bới lầm lỗi hơn, đó đã là sống thực rồi.

2. Về phần vụ “Giúp Người Khác Sống”: có 3 điểm căn bản

  • Hoàn cảnh giống nhau, nguyện vọng thông thường giống nhau: những gì mà mình thấy là hợp nghia và hữu ích, người khác cung có thể cho là hợp nghĩa và hữu ích. Đừng vì cái “nghĩa” và “ích” của mình, mà để thiệt hại cho người khác.
  • Những gì mình không muốn, người khác đều không muốn: không bao giờ để hại cho người.
  • Nếu có thể, nên giúp đỡ người: để cho họ cùng tìm thấy ý nghĩa sống như mình.

3. Về phần vụ “Sống Cho Người Khác”: đây là một phần vụ quan trọng cao quý hơn cả, đòi hỏi chúng ta phải hy sinh một số quyền lợi tinh thần và vật chất bản thân cho người.

Nếu thực hiện đuợc đầy đủ, chúng ta sẽ gần Đạo Thể hơn, và đó là đặc tính hướng thượng của Việt Võ Đạo.

IV. Tổng Luận

Thông thường, người học võ trước hết nghĩ tới võ thuật. Cao hơn mới nghĩ tới Võ Đạo.

Vovinam (Võ Việt Nam rút gọn) là chữ quốc tế hóa, có 2 nghĩa:

    • Nghĩa thứ nhất: Võ Thuật Việt Nam (Việt Võ Thuật)
    • Nghĩa thứ nhất: Võ Đạo Việt Nam (Việt Võ Đạo)

Muốn đạt tới trình độ “Đạo”, phải qua trình độ “Thuật”. Thuật là môn học về chuyên môn, thực dụng. Đạo là môn học tổng quátt về toàn diện, trong đó có cả chuyên môn, thực dụng ở cấp cao.

Việt Võ Đạo chính là hình nhi thượng học của Vovinam cho chúng ta một vũ trụ quan và nhân sinh quan vững chắc. Do đó, Việt Võ Đạo tuy không phải là một đoàn thể chính trị, một đoàn thể tôn giáo, một triết phái thuần túy mà là một môn phái võ đạo mang tính triết học giáo dục hiện sinh, có một hệ thống lý luận minh bạch để hướng dẫn các môn sinh thành công trong đời sống thực tại.

Vào đuợc Việt Võ Đạo, chính là vào đuợc tinh lý của một nền võ dân tộc đã kinh nghiệm qua hơn nửa thế kỷ khai sáng, và đồng thời là những sứ đồ của nền võ có sứ mạng vun trồng cho Cuộc Sống và Con Người mỗi ngày một tốt đẹp hơn.

 

Chủ Điểm Và Thành Điểm Giáo Dục Việt Võ Đạo

I. Tổng Quan

        Mỗi hệ thống giáo dục đều có chủ điểm giáo dục và thành điểm giáo dục riêng biệt. Hệ thống giáo dục Nho giáo thời quân chủ với chủ điểm giáo dục văn chuong đạo đức, đã đạt đuợc thành điểm đào tạo một đẳng cấp sĩ phu trọng kinh điển và bảo thủ. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc với chủ điểm giáo dục truyền thụ văn hóa Tây phương, nên đã đào tạo một đẳng cấp thư lại tân tiến, như hướng ngoại, an phận. Hệ thống giáo dục của xã hội Cộng Sản chú trọng tới chánh trị hơn chuyên môn (hồng trước chuyên sau), nên đã đào tạo đuợc một đẳng cấp cán bộ giỏi về lý thuyết Cộng Sản, nhưng yếu kém về chuyên môn. Hệ thống giáo dục của Mỹ Quốc thì trái lại, lại chú trọng với từng nghành chuyên môn đặc thù (kể cả chính trị và kinh doanh học) để đào tạo chuyên viên.

        Trên đây là diễn tiến thuận giữa chủ điểm và thành điểm giáo dục, trong những trường hợp chung, có môi trường thuận. Ngược lại, có những diễn tiến nghịch giữa chủ điểm và thành điểm giáo dục, tạo thành những trường hợp riêng, có môi trường nghịch. Ví dụ: hệ thống giáo dục tại các tân quốc Nam Phi mô phỏng nền giáo dục Tây phương, đã tạo thành một lớp người bất mãn với xã hội vì thiếu việc làm, bị bạc đãi. Nền giáo dục thời Pháp cung tạo đuợc một thành quả trái ngược: những lớp người thay vì trung thành với nhà nước bảo hộ, quay ra chống lại chế độ thực dân vì môi trường truyền thống đấu tranh dân tộc vững và tinh thần ái quốc cao. Như Hồ Quí Ly, Võ Duy Thanh, mặc dầu ảnh hưởng sâu đậm hệ thống giáo dục Nho giáo, nhưng vẫn hướng về khoa học thực dụng bởi thiên khiếu cá nhân xung mãn.

        Do đó, mỗi hệ thống giáo dục điều đặc biệt chú trọng vào những chủ điểm và thành điểm giáo dục tự thân. Công việc này cung tương tự như công việc trồng lúa. Từ hạt lúa giống gieo xuống, có bao nhiêu công việc đồng áng phải làm như: cầy bừa, nhặt cỏ, gieo mạ, tát nước, cấy lúa, diệt sâu bọ, gặt hái, đập lúa… Trong số những công việc nông nghiệp này, công việc nào là chủ điểm của nông vụ? Đó chính là cày cấy (chủ điểm) và thóc gạo (thành điểm). Đây là trường hợp thông thường: hạt nhân (nhân tố) và thành quả có sự trùng hợp hay tương đồng. Nhưng cũng có trường hợp nghịch đảo: nhân tố và thành điểm hoàn toàn khác nhau. Ví dụ: công việc ấp trứng của con gà, công việc rèn sắt của người thợ rèn. Con gà ấp trứng, chủ điểm của công việc nầy là ấp, nhưng không phải để quả trứng mổi lúc một lớn thêm, hoặc sinh sản ra nhiều trứng như công việc trồng lúa, mà là để nở thành con gà (thành điểm). Người thợ rèn, rèn thỏi sắt không phải để biến chế thành nhiều thỏi sắt hay một thỏi sắt đẹp hơn hay nhỏ hơn, mà làm thành một vật dụng như con dao, cái cuốc, thanh kiếm… (thành điểm).

        Một hệ thống giáo dục có thể lớn, nhỏ khác nhau, tùy theo môi trường hoạt động. Lớn trong phạm vi quốc gia (khu vực văn hóa: các nuớc nói tiếng Anh, Pháp, Đức…) hoặc nhỏ: như một trường phái (Quỷ Cốc tiên sinh với trường phái Quỷ Cốc quá chọn lọc, chỉ huấn luyện đuợc 4 môn đệ là Tôn Tẩn, Bàng Quyên, Tô Tần, Trương Nghi). Nhưng tấc cả đều giống nhau ở chổ là phương pháp giáo dục của họ đều phải mặc nhiên phân định rõ rệt chủ điểm và thành điểm giáo dục.

        Hệ thống giáo dục Vovinam Việt Võ Đạo cung vậy, tuy có nhiều điểm tương đồng với hệ thống giáo dục quốc gia, nhưng vẫn có chủ điểm và thành điểm giáo dục chuyên biệt, vì nhu cầu giáo dục không thể hoàn toàn giống nhau.

II. Hệ Thống Giáo Dục Việt Võ Đạo

        Trên căn bản, hệ thống giáo dục Việt Võ Đạo có nhiều tương đồng với chủ trương văn hóa giáo dục quốc gia: cùng mang tính chất dân tộc, nhân bản và khai phóng. Tuy nhiên, việc áp dụng những căn bản trên vào thực tế giáo dục, mỗi hệ thống giáo dục có những chương trình hoạt động khác nhau. Trình tự của chủ trương giáo dục Việt Võ Đạo đuợc xếp đặt như sau:

A. Khởi điểm: Võ Thuật

        Chủ trương giáo dục Việt Võ Đạo bắt đầu từ khởi điểm quảng phát võ thuật từ môi trường dân tộc tỏa ra cộng đồng nhân loại (luyện thân).

B. Đích tới: Đạo

        “Đạo” khởi thủy có nghia là “con đuờng”, sau bao gồm cả hai phần vụ: “đường đi” và “đích tới”, rồi đuợc trừu tượng hóa và linh thức hóa thành một từ ngữ đặc biệt của Đông phương tương đồng với cả triết thuyết và tôn giáo. Do đó, trong “đạo” có hai phần vụ: đuờng đi và đích tới. Đích tới của Việt Võ Đạo chính là lý tưởng của Việt Võ Đạo, xây dựng một xã hội có tinh thần thượng võ, xiển dương, và phổ cập tinh thần võ đạo vào mọi lãnh vực sinh hoạt tinh thần và sinh hoạt vật chất, để kiện toàn và thăng tiến cộng đồng xã hội.

C. Định hướng: Thực hiện chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân

        Định hướng giáo dục của Việt Võ Đạo là phải thực hiện đuợc con đuờng đã vạch ra, để đạt tới đích đã đuợc hoạch định. Do đó, định hướng giáo dục của Việt Võ Đạo là sự thực hiện chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân, khởi từ con người – đơn vị căn bản của cộng đồng – thay vì cách mạng cộng đồng trực tiếp như các chủ thuyết cách mạng chánh trị vẫn đề xướng.

D. Triển vọng: Phục hưng hào khí dân tộc đào tạo thế hệ thanh niên Việt Võ Đạo

        Triển vọng giáo dục của Việt Võ Đạo với những thành quả dự trù chính là sự phục hưng hào khí dân tộc, được cụ thể hóa bằng việt đào tạo một thế hệ thanh niên Việt Võ Đạo hội đủ những ưu thế về Tinh, Khí, Tài, để đảm trách và điều hướng mọi công tác giữ nước và dựng nước song song với sứ vụ triển khai và quảng phát võ đạo Việt Nam vào cộng đồng nhân loại.

III. Nội Dung Chủ Điểm Giáo Dục Việt Võ Đạo

        Nội dung chủ điểm giáo dục Việt Võ Đạo đuợc trình bài theo biểu đồ dưới đây:

        Qua biểu đồ trên, ba phần vụ đuợc xuất hiện trước mắt chúng ta, nhưng đồng thời giữa các danh vụ trên vẫn có đuờng liên lạc kế tiếp:

  • Phần vụ 1: Việt – Cách Mạnh
  • Phần vụ 2: Võ – Thân
  • Phần vụ 3: Đạo – Tâm

A. Phần Vụ 1: Việt – Cách Mạng

        Phần vụ đầu tiên, chính là sự thể hiện nhu cầu cần thiết của một dân tộc nhỏ yếu nằm giữa trục văn minh và giao thương nhân loại: cần phải cách mạng, trên mọi lãnh vực, để hội nhập vào đà tiến hóa chung.

        Nhu cầu cách mạng đối với chúng ta là một nhu cầu thường xuyên nhưng chỉ bộc phát khi lịch sử chuyển động mạnh, hoặc có những biến cố lớn trong lịch sử. Gia Long thắng Tây Sơn nhờ những lực lượng ngoại quốc do đức Giám Mục Bá Đa Lộc tuyển mộ, đã nghi ngay dến việc phải cách mạng xã hội Việt Nam để bắt kịp sự tiến bộ của các xã hội khác bên ngoài, nhưng những vì vua sau ông không ý thức đuợc tầm thức quan trọng của nhu cầu cách mạng, nên dến thời Tự Đức, xã hội Việt Nam đã có một hậu quả nghịch đảo là bảo thủ, bài ngoại quá độ.

        Các phong trào chống Pháp dành độc lập thời Pháp thuộc cung đặt nhu cầu cách mạng lên hàng đầu qua biết bao ý đồ Hoa du, Đông du, Âu du… để học hỏi, tìm hiểu về cách mạng, nhưng rốt cuộc, đều tập trung nỗ lực vào những kế hoạch cách mạng chánh trị và những công cuộc võ trang khởi nghia.

        Cố Võ Sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc có quan niệm về cách mạng khác hơn: Thâu hái được bài học duy tân từ Nhật Bản, ông nhận thức ngay nhu cầu Cách Mạng Việt không nhất thiết phải khởi đầu từ cách mạng chánh trị, mà phải khởi đầu ngay từ con người. Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân đuợc hình thành từ đó.

        Nhìn chung, phần vụ “Việt – Cách Mạng” vẫn là phần vụ xuất phát của các nổ lực giáo dục, dù nhu cầu nầy đuợc biểu dương dưới bất cứ chủ thuyết nào, để phục vụ đất nước.

B. Phần Vụ 2: Võ – Thân

        Mặc dầu là phần vụ đuợc xếp sắp thứ 2, nhưng phần vụ luyện thân và trao giồi võ thuật vẫn là nghia vụ căn bản tiêu điểm hàng đầu của hệ thống giáo dục Việt Võ Đạo.

        Rèn luyện thân thể và trau giồi võ thuật sẽ giúp con người kiện toàn và phát triển mọi cơ năng, có sức chịu đựng, sức khoẻ và dinh dưỡng, kỹ thuật tự vệ trong mọi hoàn cảnh. Càng tiến lên cao, võ thuật càng là thành tố tạo sự điều hòa linh hoạt toàn năng cho con nguời.

C. Phần Vụ 3: Đạo – Tâm

        Phần vụ này sẽ giúp chúng ta bổ xung những khuyết điểm còn lại, điều hợp tổng quát và tạo thế quân bình với cả người và việc để tránh mọi tình huống thiếu tự chủ, tự chế và tự tin trong hành động; như trường hợp những người máy hay người khổng lồ không tim trong các phim giễu.

        Phần vụ “Đạo – Tâm” không những nâng cao tâm hồn làm thăng hoa những gì đã học và thực nghiệm, mà còn nâng cao ý thức, kiến thức và trí tuệ con người, để điều hướng những hoạt động của con người tới những chủ điểm cao đẹp.

D. Lượng Giá 3 Phần Vụ:

Các phần vụ trên , có thể xếp sắp theo thứ tự sau đây:

  1. Chủ điểm 1: Võ – cường điểm
  2. Chủ điểm 2: Đạo – ưu điểm
  3. Chủ điểm 3: Việt – căn điểm.

        Trong 3 chủ điểm giáo dục trên ” Võ” đuợc coi là cường điểm, vì “Võ” chính là chủ điểm quan trọng nhất của hệ thống giáo dục Việt Võ Đạo. Kế đó, “Đạo” đuợc xếp vào hàng thứ yếu, là ưu điểm vì “đạo” điều hợp tổng quát, tạo thế quân bình với cả người và việc, đem lại sự thăng hoa những gì đã học và thực nghiệm thành ý thức cao đẹp, khai phóng và kiện toàn cho con người đuợc tinh tiến, đa năng đa hiệu. Cuối cùng, “Việt” đuợc coi là căn điểm, tức điểm nền tảng của sự phát triển của võ học. Nên nhớ: võ học không giới hạn bằng biên giới quốc gia, nên sự phát triển võ học ra cộng đồng nhân loại không thể lấy biên giới quốc gia làm ước thực. Do đó, giá trị căn điểm tuy rất cao quí với người Việt, nhưng không thể đuợc coi là cường điểm với người ngoại quốc không cùng một tổ quốc với chúng ta.

        Đạo đuợc xếp sau Võ, không đuợc coi là cường điểm vì hệ thống giáo dục võ học bao giờ cung chuyên chú về Võ trước đã, từ Võ mới thăng hoá thành Đạo, chớ không phải từ Đạo mới phát triển thành Võ.

IV. Nội Dung Thành Điểm Giáo Dục Việt Võ Đạo

        Tiếp nối chủ điểm giáo dục Việt Võ Đạo, nội dung thành điểm giáo dục Việt Võ Đạo đuợc trình bày theo biểu đồ dưới đây:

        Qua biểu đồ trên, 3 phần vụ đuợc xuất hiện trước mắt chúng ta nhưng đồng thời giữa các danh vụ trên vẫn có đuờng liên lạc kế tiếp:

  • Phần vụ 1: Tính
  • Phần vụ 2: Khí
  • Phần vụ 3: Tài

A. Phần Vụ 1: Tính

        Tính là sự thông linh, mẫn tuệ, căn nguyên của đời sống tinh thần, hay sinh hoạt linh thức. Hoàn toàn phân biệt với cá nhân tính hay cá tính.

        Định nghĩa trên cung tương đồng với định nghĩa của Khổng học trong sách Trung Dung: “mệnh Trời phú cho gọi là Tính, nói theo Tính gọi là Đạo, sửa cho hợp Đạo gọi là Giáo” (Thiên mệnh chi vị Tính, xuất Tính chi vị Đạo, tu Đạo chi vị Giáo). Có thể coi như Tính là phần tinh thần Trời phú cho, là cái lý bản nhiên trong tâm con người (theo Mạnh Tử).

        Thành điểm này bao hàm 3 danh vụ: Đức hạnh, Trí tuệ, Ý lực.

  1. Đức hạnh: “Tính” đuợc tu dưỡng và phát huy đầy đủ, sẽ làm thăng hoa con nguời đem đến cho con người những thành quả tốt đẹp về đức hạnh trong mọi hoàn cảnh.
  2. Trí tuệ: “Tính” thông linh, mẫn tuệ cung đồng thời đem lại cho con người trí tuệ tượng trưng cho con người hội nhập đầy đủ về kiến văn và kiến thức, giúp con người thích ứng đuợc với thực tế, vượt thoát mọi khó khăn để gặt hái thành công.
  3. Ý lực: “Tính” thông linh, mẫn tuệ cung đem lại cho con người đức tự tin khi suy nghi, nghị lực khi hành động. Đức tự tin và nghị lực đó phát xuất từ ý lực.

B. Phần Vụ 2: Khí

        Khí là sự vận dụng của Tính, bản chất là vô hình ngưng tụ lại thành hữu hình. Cổ nhân quan niệm: chính sự ngưng tụ lại thành hình, mà sinh ra vạn vật. Do đó, mới có thuyết “Dưỡng Khí” của Mạnh Tử, theo từ ngữ mà ông thường dùng là “khí hạo nhiên”, một thứ bản thể do con người hấp thụ đuợc từ thiên nhiên. Khí là thành tố siêu việt thanh cao, chủ sinh sắc tướng. Ý hướng “thiện dưỡng hạo nhiên chi khí” (khéo nuôi cái khí hạo nhiên) cung nhằm vào việc dưỡng dục phần thiên bẩm đó trong con nguời.

        Thành điểm của việc “dưỡng khí” chú trọng tới 3 danh vụ: Huyết khí, Chân khí, Tinh khí.

  1. Huyết khí: Huyết khí là phần nổi của khí. Điều hòa huyết khí khi ở một mức độ vừa phải. Nếu con người không huyết khí chẳng khác một xác chết, hay là một người máy, con người huyết khí hăng là con người nhiều tính tranh thắng , hiếu thắng, sẽ luôn luôn gặp phải những trở ngại khó tránh và trở ngại vô lý trên đuờng tiến thủ.
  2. Chân khí: Chân khí, theo quan niệm y học Đông phuong, là khí căn bản của con người, một loại khí gốc của sự sống. Theo y học Tây phương thì chân khí đuợc coi như một loại tương đồng với sức đề kháng của cơ thể. Ví dụ: hai người đồng cân, đồng sức, nhưng người nầy có thể chạy đua việt dã, bền bỉ hơn người kia, hoặc người kia có những phản ứng y học thuận lợi cho việc chữa bệnh hơn người nọ… Chân khí, tức sự điều hoà kinh mạch, do đó phải có sự hàm dưỡng, và đồng thời tránh tất cả những gì nghịch lại với sự hàm dưỡng, như chơi bời quá độ, tứ đổ tường, làm việc quá sức.
  3. Tinh khí: Tinh khí là phần tinh túy của con người. Đây là một khía cạnh phức tạp của sự sống mà khoa học vẩn chưa tìm hiểu hoàn toàn đuợc, tuy chúng ta vẩn biết xuất xứ của tinh khí là tủy não (nhất là não có tới 30 tỷ tế bào phức tạp). Tinh khí thuộc sinh hoạt tinh thần rất khó định nghia, nhưng có thể cảm nhận đuợc. Ví dụ: nhờ luyện Yoga tới mức tuyệt diệu, một tu si Bà La Môn có thể mặc áo phong phanh, sống trên núi tuyết vạn niên thuộc đỉnh Himalaya mà không bị chết cứng, đã làm ngạc nhiên những nhà khoa học cận đại. Một ví dụ khác là tại Tây Tạng có những nhà sư luyện thiền thành công, tinh khí toát ra, làm không ai chụp hình đuợc.
    Tinh khí tương tự như một hệ thống siêu thần kinh trong cơ thể, nên nhiều khi đã tạo nên nhiều huyền thoại khoa học. Ví dụ: lối cảm nhận đặc biệt của những người có giác quan thứ sáu với ngoại cảnh ở xa, đã thay thế hệ thống radar vô hiệu lực tại các tiềm thủy đinh nguyên tử Hoa Kỳ. Tinh khí cung tương tự như tuệ giác của nhà Phật và trực giác của Nho giáo. Hàm dưỡng tinh khí bao gồm cả những vấn đề tiết dục dinh dưỡng và thể dục để phân biệt khoẻ mạnh và tâm thần sáng suốt.

C. Phần Vụ 3: Tài

        Tài là phần sở trường hay sở đoản của mỗi người bao gồm cả những tài năng thiên phú và những tài năng do học tập mà có.

        Tuy nhiên, dù là khả năng thiên phú hay khả năng hấp thụ cả hai đều cùng chung một nguồn gốc là cung do sự phát triển của tâm thân của mỗi người, và sự phát triển nầy cung tùy thuộc ở thành điểm rèn tính và dưỡng khí của mỗi người mà có. Thành điểm của phần vụ nầy bao gồm 3 loại tài năng:

  • Khả năng chuyên môn
  • Khả năng tổ chức, điều hướng người và việc
  • Khả năng lãnh đạo và chỉ huy.

1. Khả năng chuyên môn: Khả năng chuyên môn bao gồm cả phần sở trường, sở đoản của mỗi người trên lãnh vực chuyên môn. Ví dụ: có võ sư là bác sĩ, luật sư, giáo sư…, khả năng chuyên môn của họ có thể bao gồm nhiều lãnh vực khác nhau, như một võ sư bác sĩ có hai loại khả năng chuyên môn là võ học và y học. Trong hai loại khả năng này, di nhiên là có một khả năng nổi bật hoặc đuợc đuong sự chuyên chú theo đuổi, phục vụ hơn, thì đó là sở trường, phần vụ chuyên môn còn lại thứ yếu là sở đoản. Phát triển tài trên địa hạt chuyên môn chính là sự vận dụng tài năng vào những công việc chuyên môn, sao cho có mổi ngày một tinh tiến thêm, có thể tinh hoá thành tài năng đặc biệt.

2. Khả năng tổ chức, điều hướng người và việc: Khả năng nầy chỉ do khả năng thiên bẩm một phần nhỏ, còn phần lớn do học tập, thực tập mà có. Khả năng nầy do sinh hoạt cộng đồng tạo nên: mới đâu tổ chức, điều hướng từng nhóm nhỏ người và việc. Sự tổ chức điều hướng nầy có thể thoát thay từ lý thuyết (tức kinh nghiệm của những người đi truớc đúc kết thành) hay kinh nghiệm thực hành bản thân. Có thể đuợc tập thành do nhiều năng khiếu, hoặc môn học liên hệ bổ xung, như: khóa giao tế nhân sự, phép hiểu người và dùng người, quản trị hành chánh…

        Tuy nhiên, điều cốt yếu của khả năng tổ chức, diều hướng người và việc vẫn là bản lãnh, bao gồm cả Tính, Khí, và Nhân Cách và cung đòi hỏi sự xử dụng nghị lực thích đáng trong mọi trường hợp ứng biến.

3. Khả năng lãnh đạo, chỉ huy: Khả năng lãnh đạo và chỉ huy là khả năng cao nhất, trong sinh hoạt cộng đồng, Đây là một loại khả năng đòi hỏi nhiều tinh thần, nghị lực và tâm cơ nhất, nên cung đuợc chuyên chú rèn luyện nhất, so với các lãnh vực khác.

        Cung có trường hợp có những người có khả năng lãnh đạo chỉ huy thiên phú như: Napoléon, Nguyễn Huệ, nhưng phần đông, do sự huấn luyện, rèn luyện mà có như: Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngu Lão .v.v… đều nghiên cứu binh pháp, nên đã trở thành những vị tướng lỗi lạc trong một thời.

        Điều quan trọng nhất của khả năng lãnh đạo chỉ huy vẫn là bản lãnh và nghị lực, rồi tới kiến thức và kinh nghiệm do học tập mà có, và thường xuyên đuợc tôi luyện trong thực tế công tác, mới có thể phát triển thăng tiến.

V. Kết Luận

        Mỗi hệ thống giáo dục đều có chủ điểm và thành điểm giáo dục rõ rệt. Chủ điểm giáo dục của Việt Võ Đạo là “Việt Võ Đạo” đuợc thực hiện bằng con đuờng “Cách Mạng Tâm Thân”, trong đó có “Võ – Thân” là cường điểm, “Đạo – Tâm” là ưu điểm và “Việt – Cách Mạng” là căn điểm. Thành điểm giáo dục của Việt Võ Đạo là đào tạo một thế hệ mới hội đủ các thành tố về Tinh – Khí – Tài. Rèn Tính sẽ cho chúng ta Đức hạnh, Trí tuệ và Ý lực sung mãn để gánh vác trách nhiệm chủ chốt mọi dịch vụ phục vụ xã hội. Dưỡng khí sẽ điều hòa và hàm dưỡng cho chúng ta Huyết khí, Chân khí, và Tinh khí sung mãn, làm căn bản cho mọi hoạt động và dịch vụ, là hấp lực cuốn hút mọi người tin tưởng tuân hành. Luyện Tài sẽ trau giồi hoàn bị cho chúng ta những khả năng chuyên môn, khả năng tổ chức, điều hướng người và việc, và khả năng lãnh đạo và chỉ huy.

        Tóm lại, chúng ta muốn đào tạo những mẫu người lý tưởng ra sao, qua hệ thống giáo dục Việt Võ Đạỏ Tất nhiên, mẫu người đào tạo lý tưởng của chúng ta không phải là những chuyên viên dù là những chuyên viên võ thuật, mà là những người toàn diện, bao gồm cả Tinh – Khí – Tài, để có thể thích ứng với mọi hoàn cảnh. Chủ điểm giáo dục của chúng ta vì vậy, lấy căn điểm từ dân tộc Việt, phát huy cường điểm “Võ” và ưu điểm “Đạo”, để trở thành những mẫu người lý tưởng gồm đủ các Tài – Trí – Đức trong mọi công tác phục vụ dân tộc và võ đạo.

        Khởi từ chủ điểm giáo dục, chú trọng đặc biệt tới thành điểm giáo dục, chúng ta kỳ vọng rằng, hệ thống giáo dục Việt Võ Đạo sẽ đầy đủ khả năng đào tạo một thế hệ thanh niên Việt Võ Đạo, khơi mở và dẫn đầu mọi công cuộc và xiển dương thanh vọng Việt Nam trước cộng đồng nhân loại.

 

Lý Tưởng và Ước Vọng

I. Khái Niệm

        Chúng ta thường nghe và nói đến lý tưởng, ước vọng. Có thể nói không một người nào không nghi tới lý tưởng và ước vọng. Bác nông phu mong ước đuợc mùa. Sinh viên, học sinh ước vọng thành đạt và theo đuổi, phục vụ, thực hiện lý tưởng v.v…

        Như vậy, quan hệ của lý tưởng và ước vọng trong đời sống chúng ta ra sao, cả đời công và đời tử

        Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu với hai thành phần về khái niệm: định nghia và so sánh.

A) Định Nghia:

1. Lý tưởng:

  • Theo Petit Larousse: sự viên mãn do ý thức tưởng tượng nhưng không thể đạt tới hoàn toàn – “perfection que l’esprit imagine sans pouvoir y atteindre complètement“.
  • Theo Việt Nam Tân Tự Điển của Thanh Nghị: cái tốt đẹp mình tưởng tượng và chẳng bao giờ đạt tới hoàn toàn

        Qua hai định nghia trên, chúng ta có thể tạm đúc kết một định nghia chuẩn xác cho lý tưởng là: sự viên mãn của ý thức muốn đạt tới, nhưng không thể thực hiện hoàn toàn.

2. Ước vọng:

        – Theo Petit Larousse: sự chờ đợi một điều tốt mong muốn – “attente d’un bien qúon désire“.

B) So Sánh:

1. Lý tưởng với ảo tưởng:

        Lý tưởng xuất phát từ ý thức, ảo tưởng xuất phát từ trí tưởng tượng. Do đó, từ căn bản tâm lý học, chúng ta đã thấy lý tưởng và ảo tưởng đã có xuất xứ phân hóa khác nhau, nên không thể cùng đạt tới một tiêu điểm giống nhau, tuy trong bản chất vẫn còn một vài phẩm tính phù hợp.

        Lý tưởng, tuy không thể đạt tới hoàn toàn, vẫn nhiều tính thực tế (vì có thể thực hiện tới mức gần hoàn toàn), trong lúc ảo tưởng chỉ là điều mơ tưởng viễn vông.

2. Lý tưởng với không tưởng

        Không tưởng là sản phẩm của óc tưởng tượng, tuy mang tính chất lý tưởng nhưng chỉ là lý tưởng giả tạo, không thể thực hiện đuợc.

3. Ước vọng với tham vọng và dục vọng

  • Ước vọng, có ước vọng tốt, ước vọng xấu.
  • Tham vọng, có tham vọng lớn, tham vọng nhỏ.
  • Dục vọng, mang nhiều phẩm tính vị kỷ và thấp hèn.

        So sánh, chúng ta thấy ước vọng mang nhiều tính hồn nhiên, thụ động. Tham vọng thì nhiều phẩm tính thủ đoạn, và dục vọng nhiều phẩm tính vị kỷ.

II. Thực Chất Của Lý Tưởng Và Ước Vọng

        Đã là lý tưởng không thể phiếm diện tốt đẹp về một khía cạnh hoặc cho riêng một loại người nào mà phải toàn diện toàn bích chung cho tất cả mọi người.

        Do đó, muốn tìm hiểu thực chất của lý tưởng và ước vọng, chúng ta cần xác định lại quan hệ giữa khuynh hướng, đam mê, lý tưởng và ước vọng, cùng những nguyên động lực liên hệ.

A. Khuynh Hướng, Môi Trường Sinh Hoạt Của Lý Tưởng và Ước Vọng

        Đối nội, khuynh hướng là một động lực tâm lý qui hướng sinh hoạt con người đạt tới những tiêu điể nào đó, và đối ngoại, khuynh hướng đuợc coi như một tố tính tự nhiên hoặc tập thành, thúc bách người hay vật cử động theo một cung cách nào đó. Khuynh huớng có tính cách vinh cửu và luôn luôn tồn tại trong vô thức, điều động những nhu cầu, ước vọng, bản năng, xu huớng của mỗi người. Muốn dễ hiểu, chúng ta tạm ví khuynh hướng như tay lái điều hướng chiếc xe theo chiều lái của nó.

        Về sinh hoạt vật chất, khuynh hướng duy nhất thuộc loại này là khuynh hướng thân chất, thường bao gồm những nhu cầu: ăn ngon, mặc đẹp, “vợ đẹp con khôn, xe hơi nhà lầu” v.v…

        Về sinh hoạt tâm lý, các nhà tâm lý học thường phân biệt các loại khuynh hướng:

  • Khuynh hướng vị kỷ
  • Khuynh hướng vừa vị kỷ vừa vị tha
  • Khuynh hướng vị tha
  • Khuynh hướng hướng thượng

        Trong cả 5 loại khuynh hướng về cả hai nguồn sinh hoạt thân chất (cơ thể) và tâm lý trên đây, đều có ước vọng là phần tử sinh hoạt.

        Tôi muốn ăn một bữa thật ngon: ước vọng của khuynh hướng vị kỷ (tâm lý).

        Tôi muốn mọi người bớt ăn xài xa xỉ để góp tiền của giúp đồng bào chiến nạn: khuynh hướng vị tha.

        Tôi muốn trúng số để có phương tiện sống đầy đủ và đồng thời có phương tiện giúp đỡ những người nghèo khổ: khuynh hướng vừa vị kỷ vừa vị tha.

        Tôi muốn xã hội này không còn bất công, mọi người đều sống sung túc và thương yêu nhau chân thành: khuynh hướng hướng thượng.

        Trong cả 5 loại khuynh hướng trên, chỉ có khuynh hướng hướng thượng là có lý tưởng để đạt tới. Như vậy, lý tưởng chỉ có trong khuynh hướng hướng thượng, nhưng ước vọng hiện hữu trong mọi loại khuynh hướng.

        Điều cần phân biệt là, khuynh hướng hướng thượng không phải là khuynh hướng vị tha thăng hóa, mà là một khuynh hướng độc lập, vượt thoát lên mọi khuynh hướng. Mục tiêu của khuynh hướng hướng thượng vì vậy, không nhằm vào một đối tượng, mà nhằm và một chủ đích. Chúng ta có thể lấy ví dụ điển hình ở hai hệ phái Phật Giáo Đại Thừa và Phật Giáo Tiểu Thừa: cả hai cùng có chung một khuynh hướng hướng thượng là tu dưỡng để giải thoát khỏi Nghiệp, nhưng Phật Giáo Đại Thừa chú trọng nhiều tới việc hành đạo và tế độ (cứu đuợc một người phúc đằng hằng sa), trong lúc Phật Giáo Tiểu Thừa chú trọng nhiều tới việc tu dưỡng tự giải thoát và ít chú trọng tới việc cứu độ tha nhân. Do đó, tuy cùng chung khuynh hướng hướng thượng, nhưng Phật Giáo Đại Thừa có khuynh hướng vị tha cao hơn Phật Giáo Tiểu Thừa.

        Đồng thời, chúng ta cung cần minh xác thêm về một vài định kiến sai lầm thuộc khuynh hướng vị tha và khuynh hướng vị kỷ. Vị tha, tự nó không phải có ý nghia tốt đẹp thuần túy, cung như vị kỷ tự nó cung không phải chỉ có ý nghi xấu xa. Vị tha, nguyên nghia chỉ là “vì người khác” (tha nhân). Vị kỷ, nguyên nghia là “vì mình”. Ý tưởng “vì người khác” có thể đem đến những công tác phục vụ mặc nhiên nuôi dưỡng cái xấu. Thành ngữ “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” chính bắt nguồn từ khuynh hướng vị tha, do sự chiều chuộng con cháu (tha nhân) quá mức, mặc nhiên nuôi dưỡng những tính xấu đuợc phát triển, đã ảnh hưởng rất nhiều tới tương lai đứa trẻ, theo chiều hướng xấu. Người giúp bạn tận tình, kể cả những trường hợp ăn choi trác táng là người có khuynh hướng vị tha với bạn, nhưng chỉ mặc nhiên tạo thêm điều kiện cho bạn mình hư hỏng thêm mà thôi. Người tu si diện bích tịnh tu để tự giải thoát ra khỏi những u mê, người học giả vùi đầu trong công trình khảo cứu chỉ nhằm mục đích làm tăng triển kiến thức thuần túy cho mình thay vì có thể dành thời giờ vào nhừng công tác xã hội hay công tác nhân đạo, là những người có khuynh hướng vị kỷ. Nhưng khuynh hướng vị kỷ này tuy không làm lợi gì cho ai, cung không gây thiệt hại cho ai, nên không thể coi là xấu theo ý nghia “gây thiệt hại cho người khác là xấu”.

        Nếu so sánh, chúng ta thấy khuynh hướng như một con đuờng phải đi tới, trong đó uớc vọng chỉ là những bông cây bên đuờng. Duy chỉ có khuynh hướng hướng thượng là con đuờng độc nhất dẫn tới lý tưởng, trong lúc ước vọng vẫn chỉ là những cảnh vật của từng chặng đuờng ngắn ngủi, luôn luôn thay đổi. Ví dụ: một bác nông dân ở vùng sôi đậu, ban ngày tuân hành luật pháp quốc gia, nhưng ban đêm vẫn lén lút nhận chịu áp lực của cộng sản trong việc thu thuế, tất nhiên bác ta không có khuynh hướng quốc gia hay cộng sản, mà chỉ có khuynh hướng cầu an, thuộc loại khuynh hướng vị kỷ (hoặc: khuynh hướng vừa vị kỷ vừa vị tha, nếu bác ta chịu đựng như vậy vì mẹ già, hay vợ dại con thơ v.v…). Hoàn toàn không có vấn đề lý tưởng trong thái độ này, nhưng ngược lại, chính bác ta cung không ý thức rõ rệt là mình có khuynh hướng nào, vả cung không có cả một ý niệm sơ khởi về khuynh hướng. Tuy nhiên, ngay trong khuynh hướng cầu an, bác ta vẫn luôn luôn nuôi một ước vọng: mong mỏi hòa bình, để làm ăn đuợc dễ chịu hơn, đời sống sung túc hơn. Như vậy, ước vọng của bác nông dân trên đây nằm trong khuynh hướng cầu an, thuộc loại khuynh hướng vị kỷ (hoặc nửa vị kỷ, nửa vị tha), và loại khuynh hướng nầy không có lý tưởng, vì lý tưởng nằm trong khuynh hướng hướng thượng.

B. Đam Mê, Kích Thích Tố Của Lý Tưởng và Ước Vọng

        Đam mê là một hiện tượng tình cảm phiền toái hơn cả, có thể chi phối toàn diện đời sống tâm lý con người, bao gồm cả những cảm xúc, đau đớn, khoái lạc. Có thể quan niệm đam mê như một khuynh hướng bị kích thích mạnh lên, có cường độ đặc biệt và làm bá chủ hay độc tôn, chi phối toàn bộ sinh hoạt tâm lý. Muốn dễ hiểu, chúng ta tạm ví: đam mê như sự “nhấn ga” chiếc xe cho vọt nhanh lên.

        Thông thường, con người có nhiều khuynh hướng, và trong trạng thái bình thường, các khuynh hướng nầy thường biểu lộ trong trạng thái ôn hoà và có thể phối hợp với nhau. Nhưng khi đam mê xuất hiện, dù ở cường độ thấp, trung bình hay cao, nó có thể thúc đẩy, lôi cuốn mạnh mẽ hay làm tê liệt một hoặc nhiều khuynh hướng.

        Trong trường hợp thật, đam mê sẽ đem lại những thành quả tốt. Lưu Bình vì bị Dương Lễ làm nhục và yêu Châu Long say đắm, đã quyết tâm học và thành tài, nhờ đam mê kích thích: đam mê tình ái và đam mê phục hận.

        Phạm Ngu Lão, đam mê nghi tới binh thơ, với lý tưởng phò vua giúp nước, đã trở thành danh tướng để tiếng đến muôn đời. Khổng Tử đam mê hành đạo với tư tưởng cải tạo nhân tâm thế đạo, đã trở thành bậc vạn tuế sư biểu. Von Braun đam mê phi thuyền từ nhỏ, đã trở thành nhà bác học lỗi lạc về phi thuyền trong kỷ nguyên thám hiểm không gian. Cố Võ Sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc đam mê võ học từ nhỏ, đã trở thành vị Sáng Tổ môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo.

        Trong trường hợp nghịch, đam mê sẽ làm băng hoại hay hủy diệt một vài khuynh hướng. Juda vì tiền bán Chúa, Võ Hậu khao khát quyền hành giết chồng giết con, những vụ mê gái tiết lộ bí mật quốc gia của một số bộ trưởng Anh quốc v.v… là những đam mê làm băng hoại các khuynh hướng vị tha và hướng thượng.

        Người trúng số độc đắc nhảy múa, ăn xài huy hoắc, chơi bời trác táng, say sưa, là người mang ước vọng đuợc thỏa mãn, nhờ đam mê kích thích.

        Người đánh ghen hay tự tử vì tình, là người có khuynh hướng vị kỷ, trong lúc ước vọng bị thất vọng, vì đam mê kích thích nên đã có hành động bi thảm vào phút chót.

        Trên căn bản tâm lý học, đam mê là một trạng thái mất thăng bằng của sinh hoạt tâm lý, tập trug năng lực tâm lý vào mục tiêu và đối tượng đam mê, nhưng chán nản, đào nhiệm với mọi hoạt động khác. Do đó, mọi hoạt động của đam mê chỉ thâu hẹp trong môi trường giới hạn có mục tiêu và đối tượng rõ rệt. Tỉ như người đam mê cờ bạc, có thể thức suốt đem đánh bạc, nhưng không thể thức suốt đêm đọc sách hay chăm sóc thân nhân đau yếu.

        Tóm lại, tùy trường hợp, đam mê có thể tạo đuợc thành quả tốt hay xấu, phát triển hay làm băng hoại khuynh hướng, tăng cuờng nỗ lực hay làm giảm sút nỗ lực đạt tới lý tưởng, tùy từng mục tiêu và đối tượng.

C. Các Động Lực Kiềm Chế Khuynh Hướng Lý Tưởng và Ước Vọng

        Ngược lại với đam mê là kích thích tố của lý tưởng và ước vọng, xã hội và luân lý cùng một số ảnh hưởng về tâm sinh lý luôn luôn đóng vai tuồng kềm chế các khuynh hướng, lý tưởng và ước vọng, không cho thỏa mãn và rất có thể, làm thay đổi, băng hoại hay thăng hóa chúng. Ví dụ: một người nghèo khổ có ước vọng đuợc ăn một bữa cơm thật thịnh soạn, nhưng anh ta không thể thực hiện nổi vì bị những ước thúc xã hội và luân lý (luật pháp, phong tục, tập quán, nhu cầu gia đình v.v…) kiềm chế. Hoặc cung có lần, anh ta nẩy sinh một trạng thái tâm lý do dự mua đại (vì đam mê thúc đẩy) để tự thỏa mãn, và thôi không mua, vì nghi đến vợ con và nhân phẩm của mình.

        Hitler, vì đam mê lý tưởng, đã tàn phá một số ước thúc xã hội và luân lý (giết 7 triệu người Do Thái, xâm lăng các nuớc Âu Châu v.v…) nên thất bại. Trần Hưng Đạo, vì đam mê lý tưởng (kháng Nguyên cứu nước) đã duy trì một số ước thúc xã hội, luân lý, và xóa bỏ một số ước thúc xã hội, luân lý (vẫn trung với vua, nhưng quên thù nhà, do An Sinh Vương Trần Liễu lúc lâm chung căn dặn), nên đã để lại sự nghiệp đến muôn đời.

        Mặc khác, ảnh hưởng của tâm sinh lý cung tác động vào khuynh hướng, lý tưởng và ước vọng. Người say rượu tâm tính thay đổi đột ngột, đang thuong yêu chiều chuộng vợ con lúc tỉnh, đột nhiên thù ghét đánh đập vợ con lúc say. Cô gái dậy thì hay phụ nữ mang thai tính tình thay đổi, mơ mộng, lo âu, quậu quọ vô cớ, đỏm đáng hoặc xuề xòa bất ngờ…

        Những khuynh hướng nầy bị xã hội, luân lý và những ảnh hưởng tâm sinh lý chế nên thường tiềm ẩn vào vô thức, để trở thành mặc cảm. Cô dâu trước ngày cưới quên đi thử áo, vì có mặc cảm không hài lòng về cuộc hôn nhân của mình. Người chồng ở xa quên không viết thư cho vợ con, vì có mặc cảm bất mãn với gia đình.

        Nhưng không phải xã hội, luân lý và ảnh hưởng tâm sinh lý chỉ mang lại những hiện tượng xấu, trái lại, còn mang lại những hiện tượng tốt. Ví dụ: lòng tham bị ức chế, có thể trở thành tính quảng đại và lòng vị tha, bản năng nam nữ bị dồn nén, trở thành nhiệt tâm, hay những khuynh hướng cao đẹp về võ học, văn chuong, nghệ thuật v.v…

III. Lý Tưởng, Ước Vọng Với Tuổi Trẻ

        Trong các lớp tuổi, tuổi trẻ vẫn là lớp tuổi tha thiết nhiều nhất tới lý tưởng và ước vọng, vì khả năng dồi dào, sinh lực phong phú và tương lai, sự nghiệp vẫn luôn luôn là tiêu điểm cần đạt tới. Do đó, lý tuởng và ước vọng đã trở thành những nhu cầu tinh thần của tuổi trẻ.

        Chúng ta có thể tạm phân biệt ra hai phần vụ để đối chiếu với tuổi trẻ:

A. Tuổi Trẻ Với Lý Tưởng

        Tuổi trẻ giầu đam mê, nên khao khát có một lý tưởng để phục vụ, đạt tới. Đôi khi, vì sự khẩn thiết của nhu cầu “cần có một lý tưởng” nên tuổi trẻ đã bị điều hướng sai lệch, lầm lộn giữa cuộc sống lý tưởng và sự vật lý tưởng.

1. Vài trạng thái băng hoại lý tưởng điển hình:

        Tuổi trẻ luôn luôn khao khát một cuộc sống lý tưởng, tới mức thực tế hóa lý tưởng, hoặc ước vọng hóa lý tưởng, và thường lầm lộn, lấy sự vật lý tưởng làm cuộc sống lý tưởng.

        Ví dụ: khi chúng ta nghe tới từ ngữ “căn nhà lý tưởng” chúng ta phải hiểu rằng thực ra, căn nhà đó chỉ là một vật dụng lý tưởng, một vấn đề thực tế phiền toái vẫn mong ước và lắm lúc tưởng như không thể thực hiện đuợc, khó khăn nhu việc đạt tới một lý tưởng vậy (trường hợp thực tế hóa lý tưởng), chớ đâu phải đích thực là cuộc sống lý tưởng.

        Một ví dụ khác: khi chúng ta nghe nói tới “người vợ lý tưởng” (sự vật lý tưởng), chúng ta cung đồng thời hiểu rằng, đó chỉ là người vợ trong mộng tức người vợ trong ước vọng, hội đủ những phẩm tính tốt đẹp mong đợi (trường hợp ước vọng hóa lý tưởng).

        Do đó, khi nói đến ” lý tưởng”, chúng ta phải xác định rõ rệt thực chất của lý tưởng, đó là cuộc sống lý tưởng hay chỉ là ước vọng đuợc cải trang dưới một sự vật lý tưởng.

        Kế đó, sự bất mãn với thực tại gây cho con người một ý thức xung động, có thể phủ nhận hoặc tàn phá thực tại để xây dựng lại toàn bộ. Quan niệm nầy càng tác động mạnh với tuổi trẻ trong một thế giới bất ổn, đã nẩy sinh ra hiện tượng tuổi trẻ “nổi loạn” với nhiều hình thức khác nhau: từ những phong trào sinh viên học sinh tranh đấu chính trị đến những phong trào thác loạn về vu nhạc, nếp sống (hippy), và thậm chí còn phạm tội ác và nghiền ma túy, để trốn tránh thực tại. Tất cả, đều chung một nguồn gốc: bất mãn với thực tại, muốn theo đuổi lý tưởng, nhưng thiếu sáng suốt, không tìm thấy hướng đi của lý tưởng, nên kẻ tranh đấu tuẫn đạo, người trở lại nếp sống vị kỷ quá độ.

        Quá đam mê lý tưởng, trong khi chưa nhận định đuợc sự chân giả của lý tưởng, nên tuổi trẻ dễ bị huyễn hoặc, sách động vào những hoạt động chính trị phiêu lưu, để rồi cuối cùng bị thất vọng, trở thành con người hoài nghi, mất tự tin.

2. Chuẩn bị lý tưởng

        Từ học đuờng đến ngoài xã hội, tuổi trẻ rất ít khi – nếu không muốn nói là chưa bao giờ – đuợc chuẩn bị đầy đủ về lý tưởng vào đời. Do đó, lý tuởng chỉ là một nguyện vọng tâm lý tự thân – tức tự tìm hiểu lấy, tự quy định lấy và tự thực hiện.

        Vấn đề cần đặt ra là: Phải làm gì để chuẩn bị lý tưởng?

        Phải tìm một nghề đủ nuôi sống bản thân, sau đó tìm môi trường hoạt động thích hợp, với tinh thần phục vụ vô vụ lợi. Môi trường hoạt động đó không bao giờ là nguồn cung ứng nhu cầu vật chất cho mình. Tùy khả năng và khuynh hướng, có thể lựa chọn môi trường hoạt động trên căn bản: Văn Học – Võ Học – Đạo Học – Khoa Học – Chính Trị Học – Xã Hội Học, v.v… Và điều quan trọng, chúng ta cần phải luôn luôn lý tưởng hóa cuộc sống (vì thực tế cuộc sống không bao giờ đạt tới đuợc sự toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ) chớ đừng bao giờ thực tế và ước vọng hóa lý tưởng. Việt Võ Đạo sinh phải luôn luôn sống khoáng đạt và mực thước, sống với tất cả nhựa sống tiềm tàng ở trong tâm thân, tu dưỡng và kiện toàn để giúp ích và hiến ích cho đời. Chúng ta phải là mẫu mực lý tưởng của mọi người trước khi đòi hỏi mọi người trở thành lý tưởng của mình.

        Một ngành tầm thường, nếu đuợc lý tưởng hóa sẽ trở thành một phương tiện của khuynh hướng thượng để đạt tới lý tưởng, cung như một ngành sinh hoạt có lý tưởng, nếu bị thương mại hóa, sẽ biến thể thành một ngành sinh hoạt thông thường. Ví dụ như nghề báo: Tờ báo của Tòa Thánh La Mã là một tờ báo có lý tưởng, nhưng ngược lại, bất cứ một tờ báo nào bị thương mại hóa, sẽ trở thành một cơ cấu thương mại thông thường trong đời sống.

        Có nghề đủ nuôi sống nhưng không xa hoa trụy lạc mà trái lại hăng say phục vụ công ích là sống có lý tưởng. Nếu muốn môi trường phục vụ công ích cung ứng nhu cầu vật chất cho mình thì phải sống nếp sống giản dị và thanh đạm.

B. Tuổi Trẻ Với Ước Vọng

        So với lý tưởng, ước vọng tương đối giản dị và thân cận, nên tuổi trẻ có nhiều ước vọng. Nhưng ước vọng càng nhiều, càng gặp nhiều khó khăn, vì sẽ có một số ước vọng may mắn đạt đuợc, và một số khác không đạt đuợc. Những ước vọng không đạt đuợc, rất có thể trở thành động cơ tâm lý gây xung động cho các ước vọng khác.

        Do đó, chúng ta bắt buộc phải xếp loại và lựa chọn ước vọng. Ngoài việc xếp loại và chọn lựa theo khuynh hướng, chúng ta còn có thể xếp loại tùy theo quan hệ với lý tưởng:

    • Ước vọng của lý tưởng
    • Ước vọng ngoài lý tưởng
    • Ước vọng phi lý tưởng
    • Ước vọng phản lý tưởng

1. Ước vọng của lý tưởng

        Ước vọng của lý tưởng là ước vọng nằm trong khuynh hướng hướng thượng, không nhất thiết hoàn toàn phù hợp và lệ thuộc vào lý tưởng, có thể độc lập, nhưng vẫn phục vụ lý tưởng.

        Ví dụ: Các tu si sống thanh đạm, khắc khổ để phục vụ lý tưởng truyền giáo. Nhưng cũng có vị tu si đuợc phân công làm công việc kinh doanh, mua bán để giải quyết vấn đề ẩm thực thông thường của người tu si khi phục vụ. Ước vọng của vị tu si kinh doanh nầy là công việc kinh doanh, mua bán đuợc tốt đẹp, để có đầy đủ phương tiện giúp tập thể cùng phục vụ lý tưởng. Đó là ước vọng của lý tưởng. Hoặc một nhà kinh doanh mong ước doanh nghiệp đuợc phát triển mạnh để có phương tiện xây dựng nền móng vững chắc cho tập thể, đó là ước vọng của lý tưởng.

2. Ước vọng ngoài lý tưởng

        Ước vọng ngoài lý tưởng là ước vọng không thuộc khuynh hướng hướng thượng nhưng cũng không tác hại cho lý tưởng. Giai thoại vợ chồng bác tiều phu có quyển sách ước, ước một cục dồi heo, bác nông phu mong ước đuợc mùa v.v… đều là những ước vọng ngoài lý tưởng.

3. Ước vọng phi lý tưởng

        Ước vọng phi lý tưởng không nghịch chống lý tưởng từ căn bản nhưng đã thâu hoạch một thành quả có ảnh hưởng xấu với lý tưởng. Ví dụ: vị tu si đuợc trao nhiệm vụ kinh doanh, mua bán, đã buôn lầm phải hàng lậu, hoặc mua lầm phải thực phẩm dinh dưỡng nguy hại, đã vô tình làm trở ngại mọi người trong tập thể muốn phục vụ và đạt tới lý tưởng. Hoặc một công chức, một thương gia muốn có phương tiện giúp tập thể đã tham nhung và đầu cơ tích trữ bị tố giác.

4. Ước vọng phản lý tưởng

        Ước vọng phản lý tưởng thường xuất phát từ khuynh hướng thân chất, vị kỷ. Trường hợp “Juda bán Chúa” là một ví dụ điển hình vì tiền bỏ lý tưởng (giết thầy, phản đạo).

III. Kết Luận

        Lý tưởng là phần thưởng tinh thần cao quý nhất của đấng thiêng liêng dành cho nhân loại. Cùng với lý tưởng, có ước vọng làm trung gian khích lệ như nhu cầu nhân bản.

        Nói đến lý tưởng là nói đến Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối. Tuy nhiên, trở ngại chính của sự thực hiện lý tưởng chính là con đuờng đua tới, tức những biện pháp, phương cách thực hiện.

        Con đuờng dẫn tới lý tưởng của Thích Ca Mâu Ni là diệt khổ, cứu khổ để vượt khỏi nghiệp chướng luân hồi.

        Con đuờng của Jesus Christ là chuộc tội thế gian (đuợc biểu dương bằng khổ hình đóng đinh câu rút trên thập tự giá) để cảnh hóa nhân loại sống trong bác ái, cứu rỗi mọi tội lỗi, trước khi về Nước Chúa (Thiên Đàng).

        Con đuờng của Khổng Tử là phát huy đạo Nhân, ổn định trật tự xã hội bằng tam cương ngũ thường để xã hội hưng thịnh.

        Con đuờng của Lão Tử là trở về sống như thời nguyên thủy, dứt bỏ mọi tham vọng, dục vọng, để xã hội đại đồng.

        Con đuờng của Cộng Sản là đấu tranh giai cấp, tiêu diệt tư hữu để tiến tới xã hội đại đồng (xã hội cộng sản).

        Con đuờng dẫn tới lý tưởng Việt Võ Đạo (phát triển người Việt và nước Việt toàn diện với tinh thần võ đạo, hoặc nói cách khác là đem Việt Võ Đạo phục vụ con người) là Cách Mạng Tâm Thân.

        Lý tưởng dung nạp nhiều ước vọng, dù tốt hay xấu, chung hay riêng. Tuy nhiên, muốn thực hiện lý tưởng phải hy sinh bớt ước vọng riêng tư, nuôi dưỡng ước vọng chung. Lý tưởng hoàn toàn tốt đẹp, nên dễ huyễn hoặc người tiếp thụ và làm mờ hay đánh chìm nội dung của khuynh hướng, tức con đuờng dẫn tới. Do đó, chúng ta thấy con đuờng của chủ nghia Quốc Xã và chủ nghia Cộng Sản tràn ngập xương máu và nước mắt, nhưng những người phục vụ nó vẫn nuôi ảo tưởng về một lý tưởng hoàn toàn tốt đẹp trong tương lai.

        Lý tưởng có thể sản sinh ước vọng vô hạn, nhưng nhiều ước vọng không thể kết hợp lại thành lý tưởng. Do đó, nguời có lý tưởng luôn luôn chủ động, hăng say với nhiệm vụ và nghia vụ, trong lúc người mang ước vọng thường thụ động, ỷ lại để chờ thành quả tốt đẹp do dịp may mang lại.

        Lý tưởng thuần nhất trong lúc ước vọng trùng trùng: đạt đuợc ước vọng nầy, lại nẩy sinh ước vọng khác. Thành ngữ “đuợc voi đòi tiên” chính là sự biểu dương sự liên tục đột sinh của ước vọng.

        Người có lý tưởng và quyết tâm thực hiện lý tưởng, thái độ ung dung, điềm đạm vì làm chủ đuợc khuynh hướng, chế ngự đuợc đam mê, người mang ước vọng – tức mang tâm trạng hưởng thụ – thái độ bồn chồn, hối hả vì bị khuynh hướng và đam mê điều động, chi phối.

        Mỗi giới, mỗi tập thể có một con đuờng riêng tiến tới lý tưởng. Người khác giới, khác tập thể có thể bài bác, không chấp nhận con đuờng tiến tới lý tưởng của giới hay tập thể mình, nhưng người trong cùng một giới, một tập thể không có quyền đó, vì như thế là phản bội tập thể, thù nghịch với tập thể.

        Người Marxist có quyền phủ nhận con đuờng tiến tới lý tưởng của Chúa Jesus hay Phật Thích Ca, nhưng người Công giáo, Phật giáo thì không, và ngược lại.

        Có lý tưởng, ý thức linh mẫn về lý tưởng và chuẩn bị đầy đủ để đạt tới lý tưởng, là quan niệm minh chính của môn sinh Việt Võ Đạo.

 

Việt Võ Ðạo Trước Thời Cuộc

I. Tổng Quan

        Quan niệm đuợc nẩy sinh và áp dụng từ năm 1938: Môn phái không làm chính trị, nhưng môn sinh được hoạt động chính trị với tư cách công dân. Đó là một quan niệm đúng đắn, nhiều người tán thành, song cung có người cho rằng quá thụ động trước những vấn đề lớn của dân tộc, cần phải dứt khoát hội nhập tranh đấu.

Về tổng quát, hiện nay có 3 quan niệm chính trị khác nhau:

1. Theo nghia rộng, tất cả những gì có liên quan tới tập thể và cộng đồng đều là chính trị. Theo quan niệm chính trị này, cá nhân phải đóng góp tích cực vào tập thể và cộng đồng với cứu cánh đem lại lợi ích và hạnh phúc cho tập thể và cộng đồng để tạo điều kiện cho tập thể và cộng đồng đuợc phát triển toàn diện về cả vật chất lẫn tinh thần.

2. Theo nghia hẹp, chính trị bao gồm những hoạt động có mục tiêu hữu hạn với những phương tiện cụ thể, nhằm thể hiện một chủ thuyết, một chủ trương, một chính sách với những chương trình, kế hoạch chuyên biệt, nhằm tranh đấu hay bảo vệ quyền lợi trực tiếp ưu tiên cho một nhóm, một giới, một chính đảng.

3. Theo nghia dung hòa, chính trị bao gồm tất cả những gì liên quan tới tập thể và cộng đồng, nhưng đồng thời đuợc hướng dẫn vào những mục tiêu hữu hạn với những phương tiện cụ thể, nhằm thể hiện một chủ thuyết, một chủ trương, một chính sách, với những chương trình, kế hoạch chuyên biệt. Tất nhiên, quyền lợi của phe nhóm chính đảng chủ trương bao giờ cung là mục tiêu trực tiếp và ưu tiên.

        Quan Niệm 1: Phù hợp với những hoạt động tôn giáo, văn hóa xã hội, một quan niệm cổ truyền tốt đẹp.

        Quan Niệm 2: Thích hợp với thực tế xã hội của các Quốc Gia trong Thế Giới Tự Do, với ý hướng rõ rệt là chuyên môn hóa chính trị, coi sinh hoạt chính trị như một ngành hoạt động chuyên biệt trong mọi ngành sinh hoạt xã hội khác nhau.

        Quan Niệm 3: Nhằm mục đích thuợng tôn chính trị, thừa nhận chính trị là một ngành sinh hoạt ưu việt, có những trách nhiệm quyền lực chi phối, khống chế mọi ngành sinh hoạt khác, đang đuợc áp dụng ở các dân tộc tiểu nhược.

        Việc áp dụng quan niệm “Không làm chính trị” của Việt Võ Đạo là một vấn đề tế nhị “Không làm chính trị theo nghia thông dụng, nhưng không thể từ chối tham gia những công tác cộng đồng nhằm phục vụ công ích.

II. Quan Niệm Hành Võ Truyền Thống Của Việt Võ Đạo

        Quan niệm hành võ truyền thống của Việt Võ Đạo đuợc xuất phát từ Chủ Thuyết Cách Mạng Tâm Thân với 3 phần vụ căn bản:

A. Phục Hưng Hào Khí Dân Tộc

        Phục hưng hào khí dân tộc không phải chỉ là sự thể hiện tinh thần bất khuất vào những nghịch cảnh dân tộc mà còn bao gồm ý chí, nghị lực, tinh thần tập thể, tinh thần trách nhiệm và khả năng thực hiện trong mọi bối cảnh lịch sử. Hào khí dân tộc đuợc bộc lộ bằng 3 yếu tố:

  1. Cứng nhưng không gẫy (tinh thần cây tre), bất khuất nhưng không cường nghạnh, cố chấp (sau mỗi lần thắng Bắc xâm, đều triều cống như cũ, để tránh hiểm họa chiến tranh miên trường cho dân tộc).
  2. Hòa điệu sinh hoạt tinh thần với sinh hoạt vật chất (các chủ trương khuyến nông, chiêu dân lập ấp trong các triều đại bao giờ cung tiến hành song song với việc khuyến học và giảng kinh nghia).
  3. Thái dụng tinh hoa ngoại nhập nhưng không hỗn thuộc (du nhập Hán văn, nhung không phát âm theo thổ ngữ, sau đó biết biến chế thành chữ nôm; La Tinh hóa việc phiên âm tiếng Việt, nhưng không lệ thuộc ngoại ngữ).

B. Xây Dựng Con Người Toàn Diện Bằng Cách Mạng Tâm Thân

        Quan niệm này phân biệt hẳn với một số quan niệm đào tạo khác vẫn đuợc áp dụng:

1. So với quan niệm giáo dục Nho giáo:

        Quan niệm giáo dục truyền thống của Nho giáo đuợc áp dụng tại Việt Nam trong thời kỳ cận đại chủ trương (trọng văn khinh võ) nên đã thành công trong việc đào tạo một đẳng cấp lãnh đạo văn nhuợc, thụ động trước những biến cố lịch sử, khác hẳn với quan niệm giáo dục “văn võ đồng hành” của các thời Lý, Trần, Lê. Quan niệm giáo dục của Việt Võ Đạo chủ trương thay đổi lại toàn diện con người, không những về cả văn lẫn võ, mà còn cả về tâm thức và thân chất.

2. So với quan niệm giáo dục nặng về chuyên môn:

        Quan niệm giáo dục này đã thành công trong việc đào tạo những chuyên viên, kỹ thuật gia, nhưng nhẹ về sinh hoạt tinh thần và kiện toàn thân chất, khác hẳn với quan niệm giáo dục Việt Võ Đạo đào tạo những con người thích ứng với mọi hoàn cảnh sống.

3. So với quan niệm giáo dục nặng về chính trị:

        Quan niệm giáo dục này tuy thành công trong việc đào tạo một đẳng cấp cán bộ và thư lại chính trị, nhưng chỉ thành công ở bề rộng mà không có chiều sâu, vì con người bị gò bó, không đuợc phát triển toàn diện.

4. So với các quan niệm đào tạo võ thuật thuần túy:

        Các quan niệm nầy chỉ chú trọng tới việc phát triển thân chất, nên chỉ đào tạo đuợc một lớp người võ si chuyên môn, tương tự như mô hình “người khổng lồ không tim” nên thiếu hẳn ý thức và ý hướng dụng võ.

        Giáo dục của Việt Võ Đạo với quan niệm tổng hợp rất khai phóng nên đã phát triển con người toàn diện, đa năng đa hiệu, thích ứng đuợc với mọi hoàn cảnh sống, có ý thức và ý hướng dụng võ để giúp ích và hiến ích cho đời.

C. Quốc Gia Độc Lập, Xã Hội Công Bằng, Con Người Nhân Ái

        Đây là một điểm đặc biệt trong truyền thống của môn phái trước những biến chuyển thời cuộc: năm 1938, không khí chống Pháp bừng dậy sôi nổi, các đoàn thể chính trị chống Pháp bí mật tổ chức rồi công khai hoạt động hay khởi nghia rất nhiều (.), nhưng nhân lực còn yếu kém và bị phân hóa bởi nhiều ảnh hưởng khác nhau.

        Trở lại với thời cuộc đuong thời – tức bối cảnh lịch sử thời đó – chúng ta mới thấy sự biến diễn của lịch sử đã đuợc biểu hiện với 2 yếu tố khác nhau: phần lãnh đạo, đại đa số là các lãnh tụ già, mang nặng một quá khứ nhiều thành tích và thất bại, nên có tâm trạng của những “anh hùng sốt ruột”, muốn thực hiện mau chóng hoài bão của mình trước khi tuổi đời xế bóng. Thành phần quần chúng thì ngược lại: một quần chúng trẻ thiếu huấn luyện, hoặc nếu đuợc huấn luyện, cung do chính sách văn hóa giáo dục của người Pháp thời đó, nhằm đào tạo một thế hệ thanh niên lãng mạn, ham hưởng thụ, thay vì phục vụ đất nước, nhất là phục vụ trong nghịch cảnh mất nước.

        Như vậy, chủ trương tranh đấu độc lập quốc gia dưới mọi hình thức của các đoàn thể cách mạng đuong thời đã “thiếu chân đứng quần chúng” rõ rệt, vì nhân sự chưa được chuẩn bị đầy đủ và tình thế chưa thuận lợi. Vì không phải là một đoàn thể chính trị, nên môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo tách rời những hoạt động chính trị sôi nổi bề mặt kia, để tập trung khả năng vào việc thực hiện Chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân – đào tạo một thế hệ thanh niên mới kiện toàn cả về tâm và thân, hầu có thể đóng góp những khả năng giúp ích và hiến ích đuợc nhiều hơn – tức một hình thức chuẩn bị tích cực cho những biến chuyển mới của thời cuộc do sứ vụ tranh đấu thực hiện phần vụ quốc gia độc lập, xã hội công bằng, con người nhân ái trong tương lai.

        Về nội dung, phần vụ này không phải là một phần vụ có 3 mục tiêu tuần tự thực hiện, mà là một phần vụ có 3 mục tiêu liên kết không thể rời đuợc.

        Tranh đấu quốc gia dộc lập, nhưng tất nhiên đó không phải thứ độc lập của những bất công xã hội, trong đó con nguời luôn luôn phải coi nhau như thù nghịch vì những lý do, tranh đấu giai cấp, tranh chấp quyền lợi.

        Tranh đấu công bằng xã hội, không phải là thứ công bằng xã hội đuợc giả định do một yếu tố pháp lý nào đó, mà phải là thứ công bằng xã hội của một quốc gia độc lập có chủ quyền, trong đó nhân phẩm đuợc tôn trọng, con người đối xử với nhau bằng nhân ái.

        Tranh đấu xây dựng nhân ái giữa người với người, cung không có nghia là từ chối xử dụng sức mạnh để bảo vệ độc lập quốc gia, công bằng xã hội trong mọi tình huống và cảnh huống.

        Tất nhiên, mục tiêu của chúng ta quá lý tưởng, và khó có thể thực hiện hoàn toàn. Nhưng chúng ta vẫn cố gắng đạt tới nó với nguyện vọng càng hoàn thành đuợc nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, và nếu không áp dụng đuợc ngay trong một xã hội lớn, có thể bắt đầu bằng những xã hội nhỏ để định hướng cho những hoạt động kế tục.

III. Ảnh Hưởng Thời Cuộc và Sinh Hoạt Chính Trị Với Môn Phái

        Dù muốn dù không, môn phái chúng ta phải nhận chịu ít nhiều ảnh hưởng của thời cuộc. Một Võ Đuờng, một Trung Tâm đang hoạt động mạnh bắt buộc phải đình chỉ hoạt động khi mặt trận lan tới. Một Võ Sư, Huấn Luyện Viên đang điều hành tốt đẹp một Võ Đuờng, một Trung Tâm Huấn Luyện cung phải tạm ngưng để lên đuờng thi hành nghia vụ quân dịch.

        Sinh hoạt chính trị tế nhị hơn nhưng vẫn là một áp lực đáng kể. Chúng ta cần ôn lại những bài học quá khứ trong sinh hoạt hành võ của môn phái để chuẩn bị thái độ trong cả hiện tại và tương lai.

A. So Sánh 3 Bối Cảnh Của Đất Nước: 1945, 1954, và 1973

1. Môn phái trước những ảnh hưởng thời cuộc và sinh hoạt chính trị 1945 – 1946:

        Năm 1945 là một năm mang lại nhiều biến cố lớn và quyết định cho Việt Nam trong lúc môn phái Vovinam mới chính thức hoạt động công khai từ 1938, đuợc 7 năm. Chúng ta có thể ghi nhận lại những ảnh hưởng thời cuộc và động cơ sinh hoạt chính trị chính yếu:

  • Nạn đói 1944-45 chết gần 2 triệu đồng bào miền Bắc.
  • Sự hiện diện của người Nhật với chiêu bài “Á Châu của người Á Châu và cuộc đảo chánh 9-3-45, trao trả độc lập cho Việt Nam.
  • Mặt trận Việt Minh nắm chính quyền 19-8-45, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh 13-8-45.
  • Quân đội Lư Hán (Trung Hoa Quốc Dân Đảng) sang giải giới quân đội Nhật tại miền Bắc.
  • Quân đội Anh của tướng Gracey sang giải giới quân đội Nhật tại miền Nam.
  • Quân đội Pháp trở lại Đông Duong tại miền Nam, nhờ uy thế của quân đội Anh.
  • Các đảng phái cách mạng hải ngoại về nước, các đảng phái quốc nội ra công khai.
  • Cuộc kháng chiến Nam Bộ cuối 1945, mở đầu cho Sơ Ước 6-3-46, rồi Tạm Ước 14-9-46, cuối cùng là cuộc chiến tranh1945-1954.

        Thời cuộc trong khoảng thời gian này biến chuyển quá nhanh chóng. Sinh hoạt chính trị bộc phát, lôi cuốn cả một dân tộc bị trị vừa đuợc giải phóng, chưa có kinh nghiệm hoạt động chính trị. Hầu hết mọi sinh hoạt xã hội đều bị chính trị lôi cuốn theo cùng với những say sưa đòi lại đuợc độc lập bên cạnh những lo âu sắp phải tham chiến chống xâm lăng.

        Giữa những sôi nổi của thời cuộc và sinh hoạt chính trị náo nhiệt, thật khó có thể điều hướng sinh hoạt võ học của một môn phái mới xuất hiện công khai đuợc 7 tuổi, và cung trong hoàn cảnh khó khăn này, chúng ta mới thấy khả năng lãnh dạo và điều hành môn phái của Cố Võ Sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc nổi bật.

        Cố Võ Sư Sáng Tổ đã lựa chọn một thái độ dung hòa: chỉ cộng tác từng loại sự việc, và tuyệt đối tránh mọi cộng tác đi sâu vào sinh hoạt chính trị như tương tranh đảng phái, hoạt động hỗ trợ trong các cuộc tuyển cử v.v… Thái độ này đuợc thể hiện bằng các sự kiện: môn phái cộng tác với chính phủ Trần Trọng Kim trong việc cử các môn sinh đứng ra đảm nhiệm việc giữa an ninh tại các khu phố nội thành và ngoại ô Hà Nội, cùng những công cuộc cứu tế đồng bào trong nạn đói 1944 -45, thành lập 2 đoàn đặc biệt: “Võ Si Cảm Tử” và “Anh Hùng Ngày Mai”. Sau đó huấn luyện Vovinam cho Tự Vệ Thành và Tự Vệ Chiến Đấu để tích cực đóng góp những nổ lực của môn phái vào công cuộc chống Pháp giành độc lập.

        Chính trong giai đoạn thử thách cam go này, quan niệm hành võ của môn phái đuợc Cố Võ Sư Sáng Tổ hoạch định, thành quan niệm truyền thống của Việt Võ Đạo trước thời cuộc và sinh hoạt chính trị:

  • Môn phái Vovinam (Việt Võ Đạo) không phải là một đoàn thể chính trị nên không hoạt động chính trị. Nhưng môn phái không xâm phạn tới quyền công dân của các môn sinh, nên cung không ngăn cấm các môn sinh làm chính trị với tư cách công dân của họ.
  • Mặc dầu mục đích của môn phái Vovinam (Việt Võ Đạo) nhắm vào việc xây dựng con người toàn diện trên căn bản võ thuật và tinh thần võ đạo (chớ không phải hoạt động chính trị và công tác xã hội), nhưng khi thời cuộc nước nhà đòi hỏi, môn phái Vovinam (Việt Võ Đạo) vẫn sẵn sàng tiếp tay với chính quyền hoặc với các đoàn thể ái quốc để thực hiện công cuộc cứu quốc và cứu tế xã hội với tinh thần vị tha vô điều kiện. Tuy nhiên, sự tiếp tay này nếu có không có nghia là môn phái Vovinam (Việt Võ Đạo) phục vụ cho cá nhân hay đoàn thể nào, mà chỉ phục vụ dân tộc trong những công cuộc ích quốc lợi dân, rồi sau đó lại trở về với mục đích quảng bá võ thuật và tinh thần võ đạo của môn phái.

2. Môn phái trước những ảnh hưởng thời cuộc và sinh hoạt chính trị 1954

        20-7-1954: hiệp ước Genève qua phân lãnh thổ bằng vi tuyến 17, lại tạo một cơ hội thử thách mới cho môn phái nói chung, và Cố Võ Sư Sáng Tổ nói riêng.

        Nhìn chung về thời cuộc hồi đó, chúng ta thấy:

– Hiệp ước Genève 1954 không đem lại cho miền Nam Việt Nam những triển vọng sáng sủa gì lắm, trước thực trạng xã hội đuong thời: chính quyền (Ngô Đình Diệm) tân lập, chưa có uy thế, quân Pháp rút đi, bỏ lại những khoảng trống to lớn về quốc phòng. Các đoàn thể chính trị quốc gia không có thực lực và bị phân hóa. Miền Nam đang ở thế tranh dành ảnh hưởng giữa 3 thế lực quân sự bổ túc của người Pháp để lại (Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên). Kinh tế quốc gia nằm trong tay ngoại kiều. Nạn tham nhung cường hào khó lòng giải quyết nổi trong một thời gian ngắn…

– Miền Bắc là quê hương của đại đa số môn sinh ruột thịt, trong lúc miền Nam còn là giải đất xa lạ, chưa được hiểu biết gì nhiều. Nếu Cố Võ Sư Sáng Tổ quyết định ra đi, tất nhiên sẽ ảnh hưởng ngay tới một số môn đệ tâm huyết. Nhưng ngược lại, sẽ bỏ lại đất Bắc một số môn đệ khác đã dày công lao đào tạo, vì các môn đệ này còn bị liên hệ nhiều tới gia đình, quyến thuộc và quê hương tại miền Bắc.

– Sự “ra đi” của Cố Võ Sư Sáng Tổ tuy tránh đuợc sự khống chế của chế động chính trị, nhưng phải trả bằng một giá rất đắt: lại trở về từ khởi điểm, trong lúc mỗi ngày một lớn tuổi, các tầng lớp môn đệ cu đã bị thời cuộc và sinh hoạt chính trị làm băng hoại rất nhiều. Ngược lại, vào tới miền Nam với chương trình xây dựng lại từ đầu, không ai có thể trắc lượng trước đuợc những khó khăn và triển vọng trong những năm sắp tới.

        Cuối cùng Cố Võ Sư Sáng Tổ lại một lần nữa quyết định sáng suốt: vượt lên khỏi những khó khăn, trở ngại, để quyết định vào Nam tạo dựng lại từ đầu, trong những điều kiện không thuận lợi và đã thành công.

3. Môn phái trước những ảnh hưởng thời cuộc và sinh hoạt chính trị 1973

        Tới nay, sau khi hiệp định 28-1-73 đuợc ký kết, với mục đích chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình tại Việt Nam, thời cuộc và sinh hoạt chính trị lại một lần nữa sôi động, nhất là trong những tháng sắp tới.

        Một lần nữa, môn phái lại phải xác định thái độ trước thời cuộc và sinh hoạt chính trị. So với những lần biến cố trước, thời cuộc kỳ này tuy tạm thời mang một sắc diện hòa dịu, nhưng bên trong là biết bao ngòi lửa âm ỉ bên những thùng thuốc súng lớn.

        Chúng ta thấy những gì ở thời cuộc và sinh hoạt chính trị trong những ngày, tháng sắp tới ?

        Phân tích nó, chúng ta thấy những yếu tố:

  1. Triển vọng hòa hay chiến vẫn chưa rõ rệt. Khác với hiệp ước 20-7-54, hiệp định 28-1-73 không xác định dứt khoát triển vọng hòa bình, trong những ngày sắp tới. Người bảo là ngưng bắn, chưa hòa bình, trong lúc trên thực tế, vẫn chưa có ngưng bắn và vẫn chưa có chuyển quân. Mưu định chiến lược của các phe tham chiến gần như vẫn còn nguyên vẹn: hoặc hưu chiến để tiếp chiến, hoặc chấm dứt tạm cuộc chiến tranh này để bước sang cuộc chiến tranh khác, hoặc cùng kiềm chế nhau để đi tới hòa bình thực sự.
  2. Quân sự vẫn đuợc sử dụng như một áp lực với chính trị, do đó trong tuong lai, trong sinh hoạt chính trị sẽ lại có bạo lực.
  3. Việc hội nhập một thế lực chính trị thù nghịch vào sinh hoạt quốc gia chắc chắn sẽ làm xáo trộn mọi nếp sống bình thường, gây ảnh hưởng chung cho mọi ngành sinh hoạt xã hội.
  4. Triển vọng xây dựng hòa bình vẫn đặt ra những nhu cầu cấp bách để động viên toàn diện nhân tài, vật lực vào việc tái thiết xứ sở, trong lúc nhu cầu thời lại đòi hỏi phải giữ nguyên trạng như trong chiến tranh để đề phòng mọi vi phạm, bất trắc.
  5. Trong cuộc đấu tranh chính trị quyết liệt sắp tới, cả hai phe tham chiến miền Nam sẽ tung ra những chiến dịch, những phong trào ồ ạt, để lôi cuốn mọi sinh hoạt quốc gia. Trong những trường hợp như vậy, tất nhiên chúng ta phải có thái độ rõ rệt, để đáp ứng với những nhu cầu mới. Ngay từ bây giờ, liệu chúng ta đã chuẩn bị gì chưa, trước những chuyển động thời cuộc mới, mà ngay bây giờ, chúng ta có thể tiên liệu một phần lớn ?

        Đó chính là sự minh định thái độ của môn phái và các môn sinh trước những vấn đề thời cuộc và chính trị.

B. Quan Niệm Của Môn Phái và Thái Độ Môn Sinh Trước Những Vấn Đề Thời Cuộc và Chính Trị

        Quan niệm của môn phái và thái độ của môn sinh trước những vấn đề thời cuộc và chính trị vẫn là quan niệm hành võ truyền thống đuợc chúng ta ứng dụng một lần nữa, trước thực tại lịch sử và trong hiện tình đất nước.

        Đó chính là điểm nhất trong quan niệm hành võ truyền thống, đuợc đúc kết lại là:

  • Quan niệm môn phái: không làm chính trị, nhưng có thể tiếp tay với các đoàn thể chính trị ái quốc về một số dịch vụ thuần túy cứu nước, dựng nước, cứu trợ và tái thiết.
  • Thái độ môn sinh: có thể làm chính trị với tư cách công dân của mình, chớ không thể làm chính trị với tư cách môn sinh Việt Võ Đạo.

        Áp dụng quan niệm hành võ trên vào hiện tình, chúng ta thấy:

  1. Môn phái có thể hoạt động chính trị theo nghia rộng: sẵn sàng hội nhập và yểm trợ, cộng tác với những công cuộc nào phục vụ cộng đồng bằng công ích – tức đem lại lợi ích cho tập thể và cộng đồng. Ngược lại, môn phái không thể hội nhập, yểm trợ hay cộng tác với những hoạt động chính trị theo nghia hẹp hay nghia dung hòa; trong đó quyền lợi của cá nhân, nhóm, phe phái, giới là mục tiêu thực tế, hoặc chỉ nhân danh tập thể và cộng đồng (dân tộc, Việt Nam, quê hương, đất nước, Tổ Quốc v.v…) để hướng dẫn tập thể và cộng đồng vào những mục tiêu giai đoạn, nhằm thỏa mãn một số quyền lợi chính đáng hay không chính đáng nào đó.
  2. Giữa môn phái và môn sinh có một ranh giới phân biệt rõ rệt: môn phái nặng về chuyên môn võ học, còn môn sinh vẫn đuợc hành xử quyền tự do tư tưởng hiến định – trong đó có cả quyền “làm chính trị”.
  3. Quan niệm hành võ của môn phái là một quan niệm đứng đắn và chính xác: trước khi hành xử các quyền hạn pháp định dành cho pháp nhân, một đoàn thể chuyên môn (võ học) phải là một đoàn thể chuyên môn trước đã. Không thể và không nên lạm dụng uy thế chuyên môn của mình để khống chế các lãnh vực sinh hoạt khác, cung như không để các lãnh vực sinh hoạt khác khống chế trách nhiệm chuyên môn của mình. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt (quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách), môn phái vẫn sẵn sàng hội nhập, yểm trợ hay cộng tác với những công cuộc, chương trình ích quốc lợi dân, cứu quốc và kiến quốc thật sự.
  4. Nếu các môn sinh hội nhập vào các chương trình, kế hoạch ích quốc lợi dân, cứu quốc và kiến quốc thật sự, môn phái vẫn có thể hổ trợ, tùy theo khả năng môn phái.
  5. Thời cuộc và sinh hoạt chính trị rất phức biến, tế nhị và thường có tính cách giai đoạn, khẩn hạn và hữu hạn; trong lúc những hoạt động võ học có tính cách trường cửu, lâu dài và không giới hạn. Do đó, muu vọng cá nhân có thể đúng hay sai, thành hay bại mà không có ảnh hưởng quyết định tới tập thể. Không thể hy sinh cái trường cửu, lâu dài và không giới hạn cho cái giai đoạn khẩn hạn và hữu hạn hay ngược lại, vì mỗi bộ môn đều có nhu cầu riêng và mục tiêu riêng.
  6. Các chương trình, kế hoạch ích quốc lợi dân, cứu nước và dựng nước bao giờ cung đuợc tôn trọng tuyệt đối, vượt ra những cung cách hành xử thông thường.

IV. Kết Luận

        Không phủ nhận những giá trị to lớn của thời cuộc và sinh hoạt chính trị mang lại, nhưng chúng ta cũng đồng thời thừa nhận rằng, đó là những giá trị to lớn có tầm vóc hữu hạn của nó. Ví dụ như, trước đây Hoa Kỳ và Trung Cộng đã chống đối nhau quyết liệt hàng chục năm, với những mưu vọng to lớn và những thiệt hại khổng lồ, lôi cuốn sự tham gia của hàng chục nước. Nhưng chu kỳ chống đối đã qua và kỷ nguyên hòa giải đã bắt đầu: rõ rệt là chủ trương chính trị nào, dù vi đại tới đâu, cung chỉ có tầm vóc hữu hạn trước khi lột xác thành một tầm vóc khác.

        Chúng ta đã tham gia hay dự khán biết bao tấn tuồng dâu bể thời cuộc và chính trị từ năm 1945 tới nay, trong đó có những vị anh hùng đã trở thành những tên phản bội ghê tởm nhất, người khả kính biến thành kẻ đáng phỉ nhổ, và ngược lại. Chúng ta đã thấy từng chính sách tiếp nối, từng chủ trương đổi thay, từng màn kịch đổi lớp. Tất cả, đã có những trường hợp tác động mãnh liệt vào cảm quan chúng ta, lôi cuốn chúng ta, như men rượu đã hấp dẫn người say. Rồi cuộc vui nào cung có khi tàn, chén rượu nào cung có khi cạn, người say nào cung có khi tỉnh, đời ai rồi cung có lúc chấm dứt, sự nghiệp nào rồi cung nhận chịu sự phê phán của lịch sử. Lúc đó, quá khứ có thể làm chúng ta hãnh diện hay ghê tởm. Tất cả bắt đầu ngay từ ý thức và quyết định trong hiện tại của mỗi chúng ta.

        Việt Võ Đạo không hề lãnh đạm trước thời cuộc và sinh hoạt chính trị; nhưng ngược lại, Việt Võ Đạo không phải là một đoàn thể hữu trách về sinh hoạt chính trị, trước thời cuộc. Ranh giới giữa chính trị và chuyên môn bao giờ cung là một thứ ranh giới chính xác, trong nhận thức của mọi người.

        Nhưng những người Việt Võ Đạo vẫn là những công dân của một quốc gia, có những quyền lợi và nghia vụ hiến định phải tuân hành; và đồng thời, cung là những con người nhục thể, cung có những cảm quan và nhận thức như mọi người. Đó là một ưu điểm và cung là một nhược điểm, tùy từng giá trị sự việc đúng hay sai, và sự phê nhận đúng hay sai không phải là một việc lúc nào cung khẳng định ngay đuợc. Do đó, các môn sinh Việt Võ Đạo đều có 2 tư cách hành xử: là công dân, khi muốn làm chính trị, và là môn sinh, là phần tử Việt Võ Đạo khi sinh hoạt Việt Võ Đạo.

        Thời cuộc và sinh hoạt chính trị biến chuyển luôn, nhưng quan niệm hành võ truyền thống của môn phái vẫn đó. Xác định những quan hệ, những giới hạn để điều hướng sinh hoạt chung của môn phái, đó là ý thức chung của tất cả chúng ta trước biến chuyển lớn hiện tại của đất nước

                                            *********************************************

Chú thích:

(.) Chúng ta có thể liệt kê một số đoàn thể chính:

  • Phong trào khởi nghia Đội Cấn – Lương Ngọc Quyển.
  • Vụ ám sát hụt toàn quyền Pháp Merlin tại Quảng Châu của Phạm Hồng Thái.
  • Đông Kinh Nghĩa Thục.
  • Á Tế Á Áp Bức Nhược Tiểu Dân Tộc Hội, của Nguyễn Ái Quốc, Lâm Đức Thụ.
  • Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, của Phan Bội Châu, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Ái Quốc.
  • Việt Nam Độc Lập, của Nguyễn Thế Truyền.
  • Đảng Phục Việt (sau đổi là Tân Việt Cách Mạng Đảng) của Phạm Tuấn Tài, Hoàng Phạm Trân (Nhượng Tống).
  • Việt Nam Quốc Dân Đảng, của Nguyễn Thái Học, Phạm Hồng Thái.
  • Nhóm Đệ Tứ Quốc Tế, của Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh.
  • Đông Dương Cộng Sản đảng, Đông Duong Đại Hội Nghị, Phục Quốc Quân (Trần Trung Lập), Đại Việt Dân Chính (sau đổi là Đại Việt Quốc Xã) v.v…

                                                      ********************************

Ðường Hướng Ðiều Hành Môn Phái

 

I. Kiểm Điểm Dĩ Vãng, Trù Hoạch Tương Lai:

        Tất cả các đoàn thể có quá trình hoạt động đều chịu ảnh hưởng một định luật chung: có tiến có thoái, có ưu điểm có khuyết điểm. Một đoàn thể thành công lớn không có nghĩa là một đoàn thể không bao giờ thất bại, mà chỉ là một đoàn thể đã biết cách kiểm điểm dĩ vãng để rút tỉa những kinh nghiệm giá trị và thực tế, trên đường trù hoạch tương lai.

        Môn phái Vovinam – Việt Võ Đạo là một đoàn thể võ đạo, nên cung chịu ảnh hưởng của định luật trên. Do đó, kiểm điểm dĩ vãng để rút ra những bài học và tự kiện toàn, không những là một nhiệm vụ, mà còn là một nhu cầu tồn tại và tiến bộ của tất cả chúng ta.

A. 3 Ưu Điểm

1. Ý hướng “Môn phái không làm chánh trị, nhưng cũng không ngăn cấm môn sinh làm chánh trị với tư cách công dân” của Cố Võ Sư Sáng Tổ, đã trở thành môt quan niệm hành võ truyền thống Việt Võ Đạo, là một quan niệm minh bạch vừa áp dụng trong nội bộ, vừa ứng dụng với mọi thế lực chánh trị đuong thời. Do đó, những môn sinh có năng khiếu hay ý hướng hoạt động chánh trị vẫn không lo ngại bị kềm chế khả năng đặc biệt hay sở nguyện của mình trong lúc môn phái cung không phải bận tâm về sinh hoạt chánh trị của môn sinh với những ảnh hưởng thành bại có thể đem đến cho cá nhân anh ta. Ngoài ra, môn phái vẫn tích cực tham gia công tác xã hội, nhất là trong giai đoạn khẩn trương của đất nước, vẫn sẵn sàng cộng tác giới hạn với các đoàn thể ái quốc và chánh quyền trong các công cuộc cứu quốc và kiến quốc.

2. Kỹ thuật nghiêm minh, cấm môn sinh thượng đài đã tiết chế tính hiếu chiến hiếu thắng của tuổi trẻ, đồng thời điều hướng ý thức dụng võ vào những mục tiêu nghĩa hiệp, đã giúp cho môn sinh có tinh thần võ đạo, thoát ra khỏi những định kiến “võ phu”, hoặc “dũng sĩ đánh muớn”, bảo vệ đuợc tinh thần đồng nhất ý chí và hành động trong mọi trường hợp dụng võ.

3. Kế hoạch phát triển Việt Võ Đạo diễn tiến tốt đẹp. Việt Võ Đạo đã hội nhập vào quân đội, học đuờng, Nhân Dân Tự Vệ, Cán Bộ Phát Triển Nông Thôn, đã đi tới Xã, Ấp. Hiện nay 120 võ đuờng Việt Võ Đạo đuợc thiết lập trên 40 tỉnh, thị, đều có khả năng tự túc, tự quản, không cần sự yểm trợ tài chánh của môn phái.

B. 3 Khuyết Điểm

1. Môn phái không làm chánh trị là một ưu điểm, nhưng cá nhân môn sinh không quan tâm học tập, nghiên cứu, tìm hiểu chánh trị lại là một khuyết điểm. Dù theo nghĩa hẹp, chánh trị vẫn là một trong nhiều ngành học chuyên môn quan trọng. Tùy năng khiếu, môn sinh Việt Võ Đạo có bổn phận hội nhập mọi ngành sinh hoạt của xã hội để điều hướng mọi ngành cùng tiến trên con đuờng phục vụ dân tộc và nhân loại.

2. Với tinh thần thi đua tự lực phát triển, nên các Cục Huấn Luyện Miền, các Trung Tâm Huấn Luyện Tỉnh đã tự giới hạn vào một phạm vi nhỏ hẹp, thiếu sự tập trung nỗ lực, nhân lực và tài lực toàn quốc vào từng địa bàn hoạt động để sự hỗ trợ đuợc đắc lực và hữu hiệu trong việc tạo dựng cơ sở đại quy mô.

3. Môn phái chưa có những cơ cấu điều hành lớn mang tính cách tuyên vận hay kinh tài, như: báo chí, xuất bản, hãng dệt (vải may võ phục), xưởng may cắt võ phục, hoặc các cơ cấu kinh tài chuyên nghiệp hoạt động với mục đích đem lại lợi tức yểm trợ mọi chi khoản hoạt động của môn phái.

II. Đuờng Hướng Điều Hành

        Tất cả những ưu điểm, khuyết điểm đều giúp chúng ta trù hoạch đuờng hướng điều hành môn phái sao cho thích ứng đuợc với những nhu cầu phát triển trong một chu kỳ hòa bình đang tới.

Đuờng hướng điều hành môn phái trong hiện tình bao gồm những phần vụ ấn định:

  • Nguyên tắc định hướng
  • Điều hướng nhân sự

A. Nguyên Tắc Định Hướng

        Trong thời kỳ hậu chiến, mọi hoạt động Việt Võ Đạo phải vượt ra khỏi tình trạng thủ công nghiệp, nghèo nàn hiện hữu để chuyển sang một lề lối tổ chức đại quy mô, khoa học và phương pháp hóa, ngõ hầu xứng hợp với chương trình tái thiết hòa bình vi đại sắp xuất hiện. Có 4 nguyên tắc định hướng:

Nguyên tắc 1: Võ Sư động, Huấn Luyện Viên tinh

        Toàn thể Võ Sư sẽ trực tiếp và thường xuyên sinh hoạt tại Trung Ương, nhận sự phân công, phân nhiệm của môn phái để có thể xử dụng khả năng đa năng đa hiệu của mình vào mọi công tác tổ chức, huấn luyện và điều hành trên toàn quốc – thay vì quản trị một võ đuờng hay một chương trình phát triển tại một địa phương cố định. Việc quản trị các võ đuờng địa phương sẽ đuợc giao phó cho một hay nhiều Huấn Luyện Viên.

Nguyên tắc 2: Môn phái phát triển, địa phương củng cố

        Công tác phát huy và quảng bá Việt Võ Đạo sẽ do một ban Võ Sư được chỉ định có sứ vụ liên tục tổ chức và điều hướng từng Miền, từng khu vực trong giai đoạn đầu, để tạo uy tín hoạt động tại địa phương. Khi sinh hoạt Trung Tâm Huấn Luyện hoặc các võ đuờng đã điều hòa, sẽ đuợc giao lại cho các Huấn Luyện Viên địa phương quản trị, điều hành và huấn luyện. Ban Võ Sư tăng phái tổ chức và điều hướng chỉ còn giữ nhiệm vụ thanh kiểm để có thời giờ phụ trách những sứ vụ khác ở tại Trung Ương hoặc địa phương khác.

Nguyên tắc 3: Tập trung tài lực luân phiên xây dựng

        Thay vì tổ chức theo lề lối tự phát triển với một số tài lực hữu hạn, môn phái sẽ tổ chức một “quỹ phát triển đặc biệt” do các võ đuờng toàn quốc đóng góp, rồi tập trung tài lực lần lượt kiện toàn tổ chức cho từng Miền, từng Tỉnh, từng Võ Đuờng.

Nguyên tắc 4: Đồng nhất ý chí, thống nhất hành động

        Theo đuờng hướng tổ chức mới, các Võ Sư vì có sứ vụ tổ chức và giảng huấn các khóa đặc huấn định kỳ luân phiên cho các địa phương, nên thường xuyên đuợc đàm đạo, hội ý và làm việc với nhau. Do đó, sẽ cùng nắm vững đuờng hướng điều hành môn phái và dễ dàng đồng nhất ý chí và thống nhất hành động trong mọi sứ vụ đuợc giao phó.

B. Điều Hướng Nhân Sự

        Công tác điều hướng nhân sự nhằm tiêu chuẩn 7 điểm:

  1. Trung Tâm Huấn Luyện là đon vị quản trị căn bản của môn phái (Trung Tâm Huấn Luyện điều hướng các Võ Đuờng trong Tỉnh).
  2. Tổng Cục Huấn Luyện Trung Ương là Cơ Quan Chỉ Đạo và Điều Hành Trực Tiếp các Trung Tâm Huấn Luyện toàn quốc.
  3. Các cục Huấn Luyện Miền là Cơ Cấu Đại Diện Tổng Cục Huấn Luyện Trung Ương trong các công tác tổ chức, điều hướng và thanh kiểm.
  4. Võ Sư trực tiếp sinh hoạt với Tổng Cục và nhận sự điều hướng của Tổng Cục.
  5. Huấn Luyện Viên sẽ trực quản các võ đuờng địa phương (thường xuyên đuợc các Võ Sư luân phiên hướng dẫn quản trị và huấn luyện)
  6. Công tác điều hướng nhân sự sẽ có tính cách tập trung và luân phiên lưu động, thay vì phân tán và cố định.
  7. Cần chú trọng tới yếu tố toàn quốc thay vì yếu tố địa phương, nhưng phải tế nhị trong việc điều hướng nhân sự sao cho phù hợp với địa phương tính để công cuộc phát triển Việt Võ Đạo đuợc dễ dàng thuận lợi.

III. Kết Luận

        Đuờng hướng điều hành môn phái không chỉ nhắm mục tiêu tổ chức, quản trị các võ đuờng và điều hướng cán bộ địa phương như các lò võ chuyên nghiệp mà là nhắm mục tiêu tối hậu xây dựng một nền võ đạo Việt Nam, đào tạo một thế hệ thanh niên Việt Võ Đạo có đủ khả năng và nghị lực để xây dựng đất nước và biểu dương thanh vọng dân tộc.

        Đuờng hướng điều hành môn phái, do đó, đòi hỏi các cấp bộ Việt Võ Đạo phải có một quan niệm làm việc mới với một lề lối làm việc mới đuợc kế hoạch hóa và phương pháp hóa. Chúng ta phải từ bỏ một số thói quen cu để chuyển sang những thói quen mới. Tất nhiên, khuynh hướng an phận và địa phương chủ nghia không thể đuợc chấp nhận, nếu chúng ta muốn môn phái phát triển mạnh khắp toàn quốc trước khi lan rộng ra quốc tế. Đây không phải là một thay đổi, mà chỉ là một sự kiện toàn, một sự kiện toàn tối cần thiết và phải kịp thời, của nhu cần tồn tại và thăng tiến.

        Việc thực hiện đuờng hướng điều hành môn phái đòi hỏi sự đóng góp nhân lực và tài lực toàn quốc để tập trung khản năng khai phá và phát triển vào từng địa bàn rõ rệt, theo những thời trình đuợc kế hoạch hóa.

        Chúng ta đã đề cập tới tinh thần Việt Võ Đạo, ý thức Việt Võ Đạo. Đây chính là cơ hội để chúng ta thực hiện tinh thần đó, ý thức đó. Muốn vậy, chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ khả năng và nghị lực vào những nhu cầu phát triển mới, theo đuờng hướng Việt Võ Đạo.

        Thực tế hoạt động đang chờ đợi tất cả chúng ta, để thực hiện lý tưởng “đem Việt Võ Đạo phục vụ Con Người”, chúng ta quyết tâm đạt tới.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

“Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu”

Tháng Bảy 2011
H B T N S B C
« Th6   Th11 »
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031
%d bloggers like this: